Việt Nam-12-Miền Bắc Xưa-TLTP

Views:
 
Category: Entertainment
     
 

Presentation Description

No description available.

Comments

Presentation Transcript

Slide 1: 

VIỆT NAM (12) Miền Bắc Xưa - Tonkin Nguồn: Internet Nhạc: Hồng Hồng Tuyết Tuyết – Thể điệu Ả Đào Đào nương: Quách Thị Hồ Soạn thảo & Thực hiện PPS: Trần Lê Túy-Phượng

Slide 2: 

Bắc Kỳ (chữ Hán: 北圻) là tên gọi do vua Minh Mạng đặt ra năm 1834 để chỉ phần đất từ Ninh Bình trở ra phía bắc của Việt Nam, thay cho tên gọi Bắc Thành thời nhà Tây Sơn và Gia Long. Đây cũng là một trong ba kỳ tạo nên nước Việt Nam thời nhà Nguyễn. Đất từ Thanh Hóa đến Bình Thuận là Trung Kỳ và từ Biên Hòa vào nam là Nam Kỳ. Năm 1883, Pháp đánh chiếm thành Hà Nội lần thứ hai, buộc nhà Nguyễn ký Hiệp Ước Harmand (25 tháng 8, 1883) đầu hàng thực dân Pháp và Hiệp Ước Patenôtre (6 tháng 6, 1884), công nhận quyền bảo hộ của Pháp với vùng lãnh thổ còn lại của Đại Nam. Theo Hiệp Ước Harmand, khu vực từ đèo Ngang trở ra bắc gọi là Tonkin (Bắc Kỳ). Hiệp Ước Patenôtre quy định lại ranh giới Tonkin (Bắc Kỳ), theo đó Bắc Kỳ tính từ địa giới phía nam tỉnh Ninh Bình trở ra. Năm 1885 Bắc Kỳ gồm có 13 tỉnh: Bắc Ninh, Cao Bằng, Hà Nội, Hải Dương, Hưng Hóa, Hưng Yên, Lạng Sơn, Nam Định, Ninh Bình, Quảng Yên, Sơn Tây, Thái Nguyên, Tuyên Quang. Vùng đất Bắc Kỳ tồn tại trên danh nghĩa vẫn thuộc lãnh thổ của Đại Nam, nhưng trên thực tế thuộc quyền cai trị của Công Sứ Bắc Kỳ (Résident supérieur du Tonkin; dịch đúng ra là "Bắc Kỳ lưu trú quan đại thần") người Pháp. Các hiệp ước Pháp ký với triều đình nhà Nguyễn không được Trung Hoa công nhận. Phải đến sau Chiến tranh Pháp-Thanh (1884–1885), Pháp mới nắm toàn bộ chủ quyền của An Nam (miền Trung Việt Nam) và Bắc Kỳ.

Slide 3: 

Năm 1887, Tonkin/Bắc Kỳ trở thành một xứ bảo hộ nằm trong Liên bang Đông Dương. Sau khi đảo chính Pháp, ngày 20 tháng 3 năm 1945, Nhật đã cử Thống Sứ Nishimura tạm thời cai quản xứ này và đổi tên là Bắc Bộ. Sau khi thành lập Quốc gia Việt Nam quốc trưởng Bảo Đại thay Bắc Phần cho "Bắc Bộ". Trước khi triều đình Huế buộc phải ký Hòa Ước Quý Mùi, 1883, người Pháp đã thành lập Quân đoàn viễn chinh Bắc Kỳ (corps expéditionnaire du Tonkin) để xâm lược Bắc Kỳ. Các tướng chỉ huy Quân đoàn viễn chinh Bắc Kỳ đồng thời cũng là Thống Soái Bắc Kỳ. Năm 1885, tướng Philippe Marie André Roussel de Courcy được cử sang Việt Nam với quyền hạn kiêm quản cả Bắc và Trung Kỳ. Năm 1886, Paul Bert, một quan chức dân sự được cử sang với chức vụ "Tổng Công Sứ Trung – Bắc Kỳ" (Résident général de l'Annam et du Tonkin), gọi tắt là Tổng Sứ, thay mặt cho chính phủ Pháp chủ trì mọi công việc đối ngoại của triều đình Việt Nam và thường được gọi là "Toàn Quyền Lưỡng Kỳ" hoặc "Toàn Quyền Trung – Bắc Kỳ". Dưới quyền trực tiếp của Tổng Sứ là một hệ thống quan lại thực dân Pháp giúp việc: đứng đầu Trung Kỳ là Khâm Sứ Trung Kỳ (Résident supérieur de l’Annam) và đứng đầu mỗi tỉnh ở cả Bắc Kỳ và Trung Kỳ là Công Sứ (Résident) và Phó Sứ (Résident adjoint).

Slide 4: 

Năm 1887, chức vụ Toàn Quyền Đông Dương được thành lập, nắm toàn quyền cai quản cả Bắc - Trung - Nam Kỳ. Năm 1889, chức vụ Tổng Sứ bị bãi bỏ, chức vụ Thống Sứ Bắc Kỳ (Résident général du Tonkin), còn được gọi là Tổng Trú Sứ, được đặt ra để đảm nhiệm các công việc cho chính phủ Pháp bên cạnh Nam triều. "Tonkin" vốn là đọc trại âm tên Hán-Việt của địa danh Hà Nội, thời nhà Lê gọi là Đông Kinh (東京). Vì đó cũng là trung tâm hành chính và thương mại miền Bắc nên Tonkin được người phương Tây dùng để chỉ toàn xứ Đàng Ngoài thời Trịnh - Nguyễn phân tranh dưới nhiều dạng như Tunquin, Tonquin, Tongking, Tongkin, và Tonkin. "Tonkin" được người Pháp chỉ định riêng xứ Bắc Kỳ của triều Minh Mạng trở đi. Tuy tên Tonkin không còn dùng về mặt hành chính nhưng trong tiếng Anh ta còn thấy nó xuất hiện trong tên gọi Vịnh Bắc Bộ "Gulf of Tonkin" và cây thiên lý "Tonkin creeper". Tính từ latinh hóa tonkinensis (Phân loại học), dùng để miêu tả các loài, chủ yếu là các giống cây có ở Bắc Bộ (Tonkin). Ví dụ Sindora tonkinensis chỉ cây gụ lau, hay Dalbergia tonkinensis, tức sưa Bắc Bộ. Ngày nay, đôi khi, chữ "Bắc Kỳ" hay "dân Bắc Kỳ" được một số người miền Nam Việt Nam gọi để chỉ những người ở Miền Bắc.

Slide 5: 

Bản đồ Tonkin, vẽ năm 1888

Slide 6: 

Hiện vật đồ đồng sớm nhất châu Á của người Việt Cổ

Slide 7: 

Ải Nam Quan vào khoảng năm 1880 Cửa Nam Quan ở ngay biên giới Trung Hoa và Việt Nam. Kể từ Hà Nội lên đến tỉnh lỵ Lạng Sơn là 150 km; đến cây số 152 là chợ Kỳ Lừa; đến cây số 158 là Tam Lung; đến cây số 162 là Ðồng Ðăng; đến cây số 167 là cửa Nam Quan đi sang Long Châu bên Tàu. Như vậy từ Ðồng Ðăng lên cửa Nam Quan có 5 km; từ Kỳ Lừa lên Nam Quan mất 15 km (về phía Tây Nam, chợ Kỳ Lừa có động Tam Thanh, trước động Tam Thanh có núi Vọng Phu hay tượng nàng Tô Thị là những danh thắng của tỉnh Lạng Sơn) và từ tỉnh lỵ Lạng Sơn lên Nam Quan là 17 km.

Slide 8: 

Ải Nam Quan vào thời Pháp thuộc

Slide 9: 

Ải Nam Quan – ranh giới với Trung Quốc

Slide 10: 

Đồng Đăng – Đường đến Ải Nam Quan

Slide 11: 

Hòn Gai

Slide 12: 

Làng quê Nam Định

Slide 13: 

Vịnh Hạ Long

Slide 14: 

Đồ Sơn

Slide 15: 

Lao động trên sông

Slide 16: 

Một đường trong làng bị ngập nước

Slide 17: 

Ấp Thái Hà

Slide 18: 

Làng quê Hải Phòng

Slide 19: 

Đua thuyền – Hải Phòng

Slide 20: 

Phố Tàu – Hải Phòng

Slide 21: 

Sông Hải Phòng

Slide 22: 

Bến đậu – Hải Phòng

Slide 23: 

Vũ công – Hải Phòng

Slide 24: 

Đại lộ Paul Bert - Hải Phòng

Slide 25: 

Văn phòng Hiệp Hội Kỹ Nghệ Xuất Cảng tại Viễn Đông Đại lộ Paul Bert - Hải Phòng

Slide 26: 

Thành Hà Nội

Slide 27: 

Chùa Diên Hựu (Một Cột) được vua Lý Thái Tông cho khởi công xây dựng vào mùa đông tháng mười (âm lịch) năm Kỷ Sửu 1049, niên hiệu Thiên Cảm Thánh Võ thứ nhất. Chùa Một Cột chỉ có một gian nằm trên một cột đá ở giữa hồ Linh Chiểu nhỏ có trồng hoa sen. Truyền thuyết kể lại rằng, chùa được xây dựng theo giấc mơ của vua Lý Thái Tông (1028-1054) và theo gợi ý thiết kế của nhà sư Thiền Tuệ. Vào năm 1049, vua đã mơ thấy được Phật Bà Quan Âm ngồi trên tòa sen dắt vua lên toà. Khi tỉnh dậy, nhà vua kể chuyện đó lại với bày tôi và được nhà sư Thiền Tuệ khuyên dựng chùa, dựng cột đá như trong chiêm bao, làm toà sen của Phật Bà Quan Âm đặt trên cột như đã thấy trong mộng và cho các nhà sư đi vòng xung quanh tụng kinh cầu kéo dài sự phù hộ, vì thế chùa mang tên Diên Hựu. Chùa Một Cột được trùng tu vào khoảng những năm 1840-1850 và vào năm 1922.

Slide 28: 

延祐寺 上方秋夜一鐘闌 (蘭) 月色如波楓樹丹 鴟吻倒眠方鏡冷 塔光雙峙玉尖寒 萬緣不擾城遮俗 半點無憂眼放寬 參透是非平等相 魔宮佛國好生觀 Diên Hựu tự Thượng phương thu dạ nhất chung lan Nguyệt sắc như ba phong thụ đan Si vẫn đảo miên phương kính lãnh Tháp quang song trĩ ngọc tiêm hàn Vạn duyên bất nhiễu thành giá tục Bán điểm vô ưu nhãn phóng khoan Tham thấu thị phi bình đẳng tướng Ma cung Phật quốc hảo sinh quan Chùa Diên Hựu Đêm thu chùa thoảng tiếng chuông tàn Phong đỏ, trăng ngời, sóng nguyệt lan In ngược hình chim, gương nước lạnh Sẫm đôi bóng tháp, ngón tiên hàn. Muôn duyên chẳng vướng: xa trần tục Một mảy nào lo: rộng nhãn quan Thấu hiểu thị phi đều thế cả Dầu ma dầu Phật, chốn nào hơn? Nguyễn Huệ Chi dịch Thiền sư Huyền Quang (1254-1334) có một bài thơ về Chùa Một Cột như sau:

Slide 29: 

Sở Dây Thép Hà Nội (Nhà Bưu Điện)

Slide 30: 

Thống đốc Hà Nội khai mạc triển lãm

Slide 31: 

Mặt tiền nhà ga xe lửa Hà Nội

Slide 32: 

Bên trong nhà ga xe lửa Hà Nội

Slide 33: 

Phố Huế - Hà Nội

Slide 34: 

Hồ Tây – Hà Nội

Slide 35: 

Văn Miếu – Hà Nội

Slide 36: 

Nhà trên sông

Slide 37: 

Đường Chapeaux

Slide 38: 

Cầu Long Biên – dài 1800m

Slide 39: 

Quảng trường Chava. phía trước Khách Sạn Métropole

Slide 40: 

Đường Grand Marché

Slide 41: 

Nhà Hát Hà Nội

Slide 42: 

Nhà Hát trên Đại lộ Paul Bert

Slide 43: 

Quảng trường Hồ Nhỏ (Hồ Hoàn Kiếm)

Slide 44: 

Một chùa gần Hồ Nhỏ (Hồ Hoàn Kiếm)

Slide 45: 

Múa rồng trên đường Éventails

Slide 46: 

Các sư trong một chùa

Slide 47: 

Một chùa ở Hải Phòng

Slide 48: 

Một chùa ở Hải Phòng

Slide 49: 

Một chùa ở Hưng Yên

Slide 50: 

Lễ rước làng quê

Slide 51: 

Một chùa ở Hà Nội

Slide 52: 

Lễ rước phố thị

Slide 53: 

Một chùa ở Ninh Bình

Slide 54: 

Thành Sơn Tây

Slide 55: 

“Métropole” không phải là khách sạn ra đời sớm nhất nhưng chắc chắn là khách sạn có truyền thống lâu bền và tiêu biểu nhất gắn với Hà Nội. Buổi đầu khi người Pháp chiếm đóng, một số quán trọ đã xuất hiện tập trung bên Bờ Hồ và dọc Phố Paul Bert (nay là Tràng Tiền). Khách sạn Metropole

Slide 56: 

Ở Sài Gòn, chỉ một năm sau khi buộc nhà Nguyễn “nhượng đất”, viên Phó đô đốc Pháp, Lagrandière đã ban hành quyết định thành lập một Vườn Bách Thảo và Bách Thú vào ngày 10/6/1863. Còn ở Hà Nội, một khu vườn tương tự được khởi công vào năm 1890, tức là chỉ 2 năm sau khi Hà Nội được vua Đồng Khánh trao cho Pháp làm thành phố nhượng địa. Vườn Bách Thảo và Bách Thú

Slide 57: 

Ban đầu nó chỉ là một vườn thí nghiệm, được trao cho một viên dược sĩ hải quân biệt phái về Sở Nông lâm để nghiên cứu phương thức di thực các loại thảo mộc từ nước ngoài, nhất là từ các thuộc địa châu Phi qua để bổ sung cho các loại cây trồng đô thị và phát triển trồng trọt. Dần dà cùng với các giống cây, ngày một phong phú là một số thú nuôi thích hợp như hươu nai, đặc biệt thu hút người xem là gấu, cọp và voi cùng nhiều loại chim muông nên vườn còn được gọi là Bách Thú. Vườn Bách Thú

Slide 58: 

Vườn Bách Thú Hà Nội

Slide 59: 

Vườn Bách Thú - Hà Nội

Slide 60: 

Ban đầu, khu vườn cây trồng và nuôi chim thú này chỉ là một cảnh quan hỗ trợ cho không gian của Phủ Toàn Quyền Đông Dương, trên đất của các làng Ngọc Hà, Hữu Tiệp và Khán Xuân. Không gian này bao lấy môt gò núi đất nhỏ mà dân vẫn quen gọi là Núi Nùng, nhưng tên dân gian của nó là Núi Sưa vì trên đó mọc nhiều loại cây này. Trên lưng núi, lại có đền thờ Huyền Thiên Hắc Đế, tương truyền là người giúp nhà Lý đánh giặc phương Nam, nên được phong làm thành hoàng của mấy làng trong khu vực. Ngay chân núi lại có mấy hồ nước hơn hẳn vườn ở Sài Gòn. Ở đây từng có một ngôi “Đền Hàng Hoa” rất đẹp Đền Hàng Hoa

Slide 61: 

“Vui nhất là Chợ Đồng Xuân Thức gì cũng có xa gần bán mua”Câu ca dao này hẳn ra đời muộn hơn năm 1888 là thời điểm chính quyền Pháp bắt tay vào quản lý Hà Nội như một thành phố “nhượng địa”  và ngày 6/4/1888 đã ký một quyết định thành lập một ngôi chợ mới. Chợ Đồng Xuân được lắp đặt bằng khung thép và lợp mái tôn

Slide 62: 

Chợ Đồng Xuân

Slide 63: 

Đường Grand Marché

Slide 64: 

Hồi xưa, đồng hồ còn là vật dụng hiếm quý nên Hà Nội chỉ có dăm cái đồng hồ công cộng để báo giờ cho dân chúng. Tuy nhiên, chỉ duy nhất một cái đặt chơ vơ giữa khoảng không gian rộng, trên một cái cột gang, tựa như những cột đèn khá phổ biến đương thời. Đồng Hồ công cộng

Slide 65: 

Hoàng thành Thăng Long qua các triều đại có thể to nhỏ khác nhau, vòng thành có thể rộng hẹp khác nhau, nhưng trên trục hoàng đạo nối từ Cửa Bắc đến Cửa Nam có một địa điểm không khi nào thay đổi, đó chính là Điện Kính Thiên. Điện Kính Thiên

Slide 66: 

Một góc Điện Kính Thiên Công trình phòng thủ của quân đội Pháp

Slide 67: 

Những nhịp cầu rất đặc trưng in trên nền trời giúp chúng ta dễ dàng định vị được con đường được chụp trên tấm ảnh này. Người Pháp gọi chung con đường chạy dọc bờ sông Hồng này là “Quai de Commerce” (Kè Thương mại). Hãy để ý lúc này chưa có đê dọc Sông Hồng Cầu Long Biên – Cầu dài nhất Hà Nội đương thời

Slide 68: 

Phố Hàng Đào. Rue de la Soie – tên gọi chính thức bằng tiếng Pháp trong bản đồ hành chính thành phố Hà Nội – đủ để giải thích tên gọi “Hàng Đào”. Đây chính là phố bán các loại vải vóc, tơ lụa mà có lẽ là loại vải màu điều (đào/đỏ). Ngôi nhà ngoài cùng bên phải ảnh chính là nhà số 4 nơi cư trú của gia đình cụ Cử Lương Văn Can. Ngôi nhà 2 tầng có lan can màu trắng cách 2 ngôi nhà tiếp theo là nhà số 10 nơi mở trường Đông Kinh Nghĩa Thục.

Slide 69: 

Điểm rẽ của 2 tuyến xe điện, một đi thẳng vào Hàng Đào đi tiếp tới Chợ Đồng Xuân; một rẽ trái theo phố Hàng Gai lên Cửa Nam

Slide 70: 

Mã Mây xưa kia là 2 phố với hai đặc trưng hàng nghề là Hàng Mây ở đoạn gần Hàng Buồm và Hàng Mã Vĩ ở đoạn sát Hàng Bạc Đường Mã-Mây

Slide 71: 

Người Pháp gọi tên Phố Mã Mây là Phố quân Cờ Đen để ghi nhận nỗi kinh hoàng của cả Tây lẫn Ta với đám quan quân đến từ Phương Bắc hoành hoành và từng trú quân tại đây. Phố Mã-Mây

Slide 72: 

Nếu chọn một công trình kiến trúc nào xưa nhất, lại ít thay đổi nhất của Hà Nội còn lại cho đến nay thì đó chính là Nhà Thờ Lớn Hà Nội. Nhà Thờ Lớn được khởi công vào năm 1884 và khánh thành kịp vào dịp Lễ Thiên Chúa Giáng Sinh năm 1887. Kể từ đó cho đến nay, kiến trúc dường như không thay đổi. Xem các tấm hình cách đây đã trên dưới một thế kỷ thì thấy rõ điều ấy. Có chăng là sự thay đổi cảnh quan và con người mà thôi. Nhà Thờ Lớn Hà Nội

Slide 73: 

Nhờ cuộc xổ số năm 1884 thu được 10 vạn đồng, Nhà thờ Thánh Joseph (Nhà Thờ Lớn) đã được khởi công ngay trong năm đó và được xây dựng như diện mạo ngày nay và được khánh thành ngày 23/12/1887, một ngày trước dịp Thiên Chúa giáng sinh.

Slide 74: 

Phố Cầu Gỗ rất gần Hồ Gươm nhưng bị khuất bởi một dẫy phố nằm kế bên Hồ, có một lối thông sang hồ cũng được coi là một phố (phố Hoàn Kiếm) và đó chính là vị trí của một chiếc cầu làm bằng gỗ bắc qua một con lạch nối Hồ Hoàn Kiếm với một hồ nước không nhỏ có tên là “Thái Cực”, sau khi bị lấp đã trở thành không gian của các phố nằm phía sau dẫy nhà lẻ của phố Hàng Đào (khu vực nay là chợ Hàng Bè). Phố Cầu Gỗ

Slide 75: 

Cảnh quan Hồ Gươm nhìn từ bờ phía Đông. Dòng lưu bút ghi bên lề tấm bưu ảnh (ngày 10/11/1902) cho biết tấm hình này phải được chụp trước thời gian nó được in thành bưu ảnh và được một khách hàng sử dụng.

Slide 76: 

Cầu Doumer, nay gọi là Cầu Long Biên khai thông từ năm 1902, dài 1800m. Nhưng thưở đầu, mối quan tâm của nhà đầu tư chưa phải ưu tiên giành cho Hà Nội mà tuyến đường sắt chạy từ Cảng Hải Phòng chỉ vượt con Sông Cái (hay Sông Hồng) để đi thẳng lên Vân Nam xâm nhập vào thị trường vùng Tây Nam của cái quốc gia khổng lồ mà tất cả các đế quốc Âu Tây đang mong ước đựợc dự “bửa cỗ Trung Hoa”.

Slide 77: 

Ga Đầu Cầu tuy nhỏ nhưng đẹp và tiện lợi cho khách nhờ có 2 lối lên

Slide 78: 

Tại Hotel Grand Café đã có những buổi chiếu bóng đầu tiên rồi dần dần mới ra rạp chuyên cinéma. Bộ phim đầu tiên có tên là “Thần Cọp” và được trình chiếu vào 8/1920. Tại phố Nguyễn Xí, có một cái cổng nhỏ đi vào một rạp chiếu phim lấy tên là Palace Khách Sạn Grand Café

Slide 79: 

Xe điện trong thành phố

Slide 80: 

Năm 1918, Trường Nữ Sư Phạm Hà Nội được thành lập, lúc đầu học ở Hàng Vôi sau chuyển ra Lò Đúc. Năm 1925, trường đổi thành Nữ Trung Học Hà Nội (Collège des Jeunes Filles) ở phố Félix Faure (nay là Bộ Tư Pháp ở phố Trần Phú). Địa điểm này bị người Pháp lấy làm Trường Nữ Trung Học Pháp, đổi lại cho xây Trường Nữ Trung Học Việt Nam ở phố Hàng Bài. Nay là trường THCS Trưng Vương

Slide 81: 

Tại ngã sáu, nơi giao nhau của nhiều đường phố: Hàng Than, Quán Thánh, Phan Đình Phùng, Hàng Lược, Hàng Giấy và Hàng Đậu có một công trình xây dựng khá độc đáo, lúc nào cũng đóng cửa kín mít. Tường của công trình này xây bằng đá hộc, những chấn song sắt và những vòm cửa sổ, cùng cái mái tôn của một toà tháp cao tới 25 mét tính đến chóp, gây cảm giác nặng nề như chốn ngục thất đầy bí ẩn. Nhưng thực ra đó chỉ là một tháp nước (chateau-d’eau) trong kết cấu của hệ thống cung cấp nước cho đô thị được xây dựng từ cuối thế kỷ XIX. Có lẽ do trục đường huyết mạch từ cầu Doumer (Long Biên) trực chỉ vào khu thành cổ là nơi đóng binh và đầu não bộ máy cai trị của người Pháp, nên người ta quen gọi đây là “tháp nước Hàng Đậu”.

Slide 82: 

Sách “Đại Nam Nhất Thống Chí” của triều Nguyễn đã xác định “Phố Đông Hà bán chiếu trơn”. Đông Hà là tên gọi cái cửa ô mà con đường này từ trong phố đi ra sông Hồng, cái cửa ô này dân thường gọi quen hơn là Ô Quan Chưởng. Đúng là thời xa xưa ở đây có bán chiếu cói nên người Pháp cũng từng định danh là “Rue des Nattes en joncs” ( Phố Chiếu Cói). “Hàng Chiếu” có lẽ là cách định danh đúng hơn cả nếu so với 2 cái tên đã từng có, một do người Pháp đặt là “Jean Dupuis” và một theo cách gọi của dân là “Phố Mới”.

Slide 83: 

Cho đến nay cái từ “Ngang” của phố Hàng Ngang vẫn là một câu hỏi về ngữ nghĩa vì nó không phải là một sản vật như các “hàng” khác (như “Hàng Đường, Hàng bạc, Hàng Muối trắng tinh”). Có nhà nghiên cứu liên tưởng đến một địa danh khác của Hà Nội là phố “Đình Ngang” vốn là con đường cửa ngõ đi vào trong thành qua cửa phía Tây Nam, vì thế có một cái đình được dựng ngang đường cho một đám quan quân đồn trú để tiện bề kiểm soát người qua lại.

Slide 84: 

Hàng Đường là cái tên có từ trong ca dao xưa và không bị thay đổi, có chăng thêm cái tên phố Cầu Đông, khi có một chiếc cầu đá bắc ngang con sông Tô Lịch. Sông Tô Lịch hồi chưa bị lấp chảy dài từ Hàng Lược qua Hàng Cá, dọc Ngõ Gạch ra sông Hồng đoạn cuối Mã Mây. Cũng vì có cây cầu đó mà không gian cận ảnh của tấm hình này xưa kia chính là Chợ Cầu Đông. Sông lấp rồi, cầu không còn, để khai thông con đường từ Bờ Hồ ra Hàng Đậu – là điểm giao với con đường khá quan trọng từ Cầu Sông Cái đi vào khu Thành cổ – nên chợ Cầu Đông xưa mới dịch chuyển sang một bên đường để lập ra cái chợ to và lấy tên hàng tổng là Đồng Xuân.

Slide 85: 

Trường đua ngựa mà nhiều người hay gọi là sân Quần Ngựa ở Hà Nội có từ rất sớm. Cuốn “Le Vieux Tokin” (Bắc Kỳ Xưa) cho biết cuộc đua ngựa đầu tiên ở Hà Nội diễn ra ngày 15/7/1886 trong khuôn khổ những hoạt động mừng Quốc Khánh Mẫu Quốc năm ấy của đạo quân chiếm đóng và phải 2 năm sau (1888) Tourane (Đà Nẵng) và Nam Định mới có nơi đua ngựa…

Slide 86: 

Nếu bạn đến rạp xiếc Hà Nội hiện đặt tại khu vực Công Viên Thống Nhất, bạn có thấy một đôi tượng sư tử bằng đồng rất đẹp. Đó chính là dấu tích còn lại duy nhất (!?) của một công trình kiến trúc rất đẹp mà thoạt nhìn nhiều người ngỡ tưởng nó ở xứ sở xa xôi nào đó bên châu Âu. Toà nhà do kiến trúc sư Bussy thiết kế. Còn cuộc Đấu xảo năm 1902 được khánh thành vào ngày 16-11-1902. Toà kiến trúc đã biến mất sau trận ném bom của máy bay Đồng Minh (Mỹ) vào thời kỳ phát xít Nhật đang chiếm đóng nước ta trong thời Đê Nhị Thế Chiến. Hai bức tượng đồng là phần duy nhất không bị bom đạn huỷ hoại Các cuộc “đấu xảo” được tổ chức tại Hà Nội từ cuối thế kỷ XIX, nhưng cuộc “Đấu Xảo-1902” được coi là đặc săc nhất không chỉ là sự kiện diễn ra vào đầu thế kỷ mới (XX) mà năm đó còn diễn ra một sự kiên trọng đại là khánh thành chiếc cầu thép khổng lồ bắc qua sông Hồng nối đường xe lửa từ Hải Phòng đến Hà Nội và ngược lên phía bắc để tới vùng Vân Nam của Trung Quốc

Slide 87: 

Trường Bảo Hộ, nay là trường THPT Chu Văn An. Từ đây đã sản sinh ra những tên tuổi như Dương Quảng Hàm, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Mạnh Tường, Hoàng Xuân Hãn, Tôn Thất Tùng, Tạ Quang Bửu, Võ Nguyên Giáp, Ngô Gia Tự, Phạm Văn Đồng…

Slide 88: 

Nhiều người nhìn tấm ảnh này đều dễ dàng nhận ra bức tượng “Nữ Thần Tự Do” đã quá quen thuộc, sừng sững ở cửa ngõ TP New York của Hoa Kỳ. Bức tượng trong ảnh này đúng là Tượng Nữ Thần Tự Do, nhưng rõ ràng là nó nhỏ hơn, lại nằm trên một đường phố của Hà Nội. Với những người từng sống ở Hà Nội trước ngày Nhật đảo chính Pháp (9/3/1945) thì vẫn có cơ hội trông thấy bức tượng này, được dựng tại Vườn hoa Neyret (nay là Cửa Nam) ngay đầu phố Hàng Bông và nhìn sang đường Cấm Chỉ. Tượng Công lý, thường được dân gian gọi là tượng Bà Đầm Xòe.

Slide 89: 

CHÚC AN LẠC Trần Lê Túy-Phượng Xin đón xem phần 13 – “Miền Trung Xưa - Annam” Deep thanks to all those who help make these historical documents available.

authorStream Live Help