Phan 4

Views:
 
Category: Entertainment
     
 

Presentation Description

No description available.

Comments

Presentation Transcript

Slide 1: 

+ Lớp sán lông: là giun dẹp sống tự do ở biển, có thể nhỏ, có lông bơi + Sán lá song chủ: là giun dẹp sống ký sinh ở động vật.

Slide 4: 

+ Sán lá đơn chủ: Chủ yếu kí sinh ngoài trên cá, lưỡng cư gây chết hàng loạt. + Sán dây: ký sinh ở động vật, đầu có cơ quan bám, cơ thể có nhiều đốt chứa đầy trứng (sán chó, sán người,…). Nhiều loài gây hại nghiêm trọng cho người và động vật.

Slide 6: 

1.3. Ngành giun tròn a) Đặc điểm Đây là ngành với hàng chục vạn loài, thường gặp với số lượng lớn trong đất, trong bùn đáy, nhiều loài ký sinh gây hại nghiêm trọng cho người, vật nuôi và cây trồng. Cơ thể thuôn dài và vuốt nhọn ở hai đầu, giống như hai cái ống lồng vào nhau, thành ống ngoài là thành cơ thể, thành ống trong là thành ruột. b) Đại diện: Giun kim, giun đũa, giun chỉ, giun móc,…

Slide 8: 

1. 4. Ngành giun đốt Đặc điểm Đây là ngành mở đầu mức độ tổ chức mới của cơ thể động vật: có thể xoang chính thức và có đủ các hệ cơ quan. Hiện nay người ta đã biết có khoảng 12000 loài, sinh sống ở biển, nước ngọt và ở cạn. Cơ thể phân đốt, mỗi đốt hầu như chứa đầy đủ các cơ quan trong cơ thể, lặp lại giống nhau. Ở một số loài có hiện tượng đầu hóa và đuôi, tạo thành cơ thể phân đốt dị hình.

Slide 9: 

b) Đại diện + Giun nhiều tơ: Hầu như sống ở biển, chỉ có số ít loài sống trong nước ngọt, nước lợ. Ở nước ta giun nhiều tơ khá phong phú, hiện đã biết trên 700 loài. Ở biển giun nhiều tơ tập trung nhiều ở vùng ven bờ, chúng sống ở đáy, chui rúc trong bùn, kiếm ăn trên mặt đáy, trong rong tảo. len lỏi bám trên các mảnh vụn vỏ ốc, trai, san hô. Đại diện: con rươi

Slide 10: 

+ Giun ít tơ: Phần lớn sống ở trong đất và tham gia tích cực vào quá trình hình thành lớp đất trồng trọt. Một số sống trong các thủy vực nước ngọt, chui rúc trong bùn hoặc bò lên cây thủy sinh, có khoảng 7% số loài sinh sống trong vùng triều ven biển. Đại diện: họ giun đất như: giun quắn; giun dài sống trong đất nặng; giun lá sống trong rừng ẩm và bò trên lá; giun quế là đối tượng nuôi làm thức ăn cho gia cầm và cá.

Slide 11: 

+ Lớp đỉa chuyên hóa theo hướng ký sinh hoặc ăn thịt, có các đốt ở phía trước và phía sau biến thành giác bám. Phần lớn sống ở nước ngọt và ở cạn, rất ít loài sống ở nước mặn. Đại diện: đỉa, vắt,…

1. 5. Ngành chân khớp : 

1. 5. Ngành chân khớp Là ngành lớn nhất trong các ngành động vật, chiếm khoảng 2/3 số loài động vật hiện biết, chiếm lĩnh khắp nơi: trên cạn, trong đất, dưới nước, cơ thể động vật và thực vật. Cơ thể và phần phụ chia đốt. Các đốt có thể nhiều và giống nhau (như ở rết, cuốn chiếu, sâu bướm,…) hoặc các đốt có thể tập hợp thành các nhóm đốt, có hình thái và phần phụ thích hợp với chức năng đảm nhiệm, tạo thành các phần khác nhau của cơ thể (ong, nhện, tôm, cua,…) Cơ thể có lớp vỏ cứng cuticun bọc ngoài Cơ thể lớn lên bằng cách lột xác nhiều lần - Mắt kép là sản phẩm riêng của chân khớp

Slide 13: 

+ Phân ngành có kìm: Cơ thể có 2 phần đầu - ngực và bụng; có 6 đôi phần phụ (đôi kìm, đôi chân xúc giác, 4 đôi chân đi); phần bụng có 13 đốt tận cùng là telson (có tuyến độc như bọ cạp; biến thành gai cảm giác ở nhện,…). Đại diện: nhện, sam, bọ cạp, ve, bét,…

+ Phân ngành có mang: : 

+ Phân ngành có mang: Chỉ có một lớp giáp xác, phần lớn sống ở nước, số ít chuyển lên sống trên cạn. Cơ thể gồm 3 phần: đầu, ngực, bụng, đầu và ngực có xu hướng hợp làm một. Đầu có các phần phụ: đôi râu 1, đôi râu 2, đôi hàm trên, đôi hàm dưới thứ nhất và đôi hàm dưới thứ hai. Đầu có hai mắt kép. Ngực có 8 đốt và bụng có 7 đốt Giáp xác sống trong mọi sinh cảnh. - Nhiều giáp xác lớn hiện nay là đối tượng khai thác có giá trị kinh tế rất cao của ngành thủy hải sản như tôm, cua,…Tuy nhiên cũng nhiều loài giáp xác gây hại không nhỏ như hà , sun, các loài đục gỗ,… gây hại cho tàu thuyền và các công trình dưới nước. Các loài chân kiếm, chân đều, mang đuôi ký sinh ở cá có khi gây chết hàng loạt.

Slide 15: 

Đại diện:

Slide 16: 

+ Phân ngành có ống khí Gồm những động vật chân khớp sống ở cạn, có phần đầu tách biệt rõ ràng với phần ngực, có phần phụ một nhánh, hô hấp bằng ống khí. Phần đầu có 4 đôi phần phụ: râu (cơ quan xúc giác và khứu giác), hàm trên, hàm dưới 1 và hàm dưới 2 (cơ quan bắt và nghiền thức ăn), Phần ngực mang 3 đôi chân. Chia làm 2 lớp: lớp nhiều chân và lớp sâu bọ

Slide 17: 

* Lớp nhiều chân Cơ thể dài, nhiều đốt (14 – 181 đốt, thay đổi tùy nhóm và tùy loài), phần ngực chưa tách biệt rõ ràng với phần bụng, có 1 đôi râu và nhiều đôi chân. Mỗi đốt thân mang một đôi chân. Các đôi phần phụ của thân là các chi chuyển vận. Ở một số nhóm, một vài đôi phần phụ của thân có hình thái biến đổi thành cơ quan tấn công và làm tê liệt mồi (rết đôi chân thứ nhất biến thành chân hàm có tuyến độc) hoặc là cơ quan giao phối. Nhìn chung sống ở nơi ẩm như dưới vỏ cây, hốc đá, trong thảm mục và sợ ánh sáng ngày, sinh hoạt chủ yếu về đêm. Chúng có tuyến da đơn bào và đa bào tiết khí hoặc dịch độc, có mùi khó chịu, đặc trưng cho loài, giữ chức năng tự vệ. tuổi thọ từ 3 – 6 năm.

Slide 18: 

Đại diện:

Slide 19: 

Lớp sâu bọ: - Là lớp lớn nhất trong giới động vật, hiện biết khoảng 1 triệu loài, chiếm 2/3 số loài động vật. Đầu là một khối, có nhiều tấm kitin gắn với nhau bọc ngoài. Phía lưng của đầu có đôi mắt kép và có một đôi râu, phía bụng có cơ quan miệng Ngực có ba đốt, mỗi đốt mang một đôi chân, riêng đốt ngực giữa và ngực sau mang thêm mỗi đốt một đôi cánh. Chân của sâu bọ chỉ có một nhánh, gồm các đốt, kể từ gốc đến ngọn là: háng, chuyển, đùi, ống và bàn. Cánh là sản phẩm tiến hóa độc đáo của sâu bọ

Slide 20: 

Lớp vỏ của sâu bọ thường có thêm các phần bám trên bề mặt cuticun như lông, gai, vảy,…giúp sâu bọ tự vệ Màu sắc giữ vai trò quan trọng trong đời sống của sâu bọ: ngụy trang, tự vệ, khoe mẽ, báo hiệu,… - Phần lớn sâu bọ sinh sản hữu tính, đẻ trứng