logging in or signing up KHỔNG MIẾU-KONG MIAO -Temple of Confucius vinhbinh Download Post to : URL : Related Presentations : Share Add to Flag Embed Email Send to Blogs and Networks Add to Channel Uploaded from authorPOINT lite Insert YouTube videos in PowerPont slides with aS Desktop Copy embed code: (To copy code, click on the text box) Embed: URL: Thumbnail: WordPress Embed Customize Embed The presentation is successfully added In Your Favorites. Views: 143 Category: Travel/ Places.. License: All Rights Reserved Like it (2) Dislike it (0) Added: January 23, 2011 This Presentation is Public Favorites: 0 Presentation Description No description available. Comments Posting comment... Premium member Presentation Transcript CONFUCIUS : CONFUCIUS KONG MIAO Temple of CONFUCIUS QUFU-JINING-SHANGDONG-CHINA KHỔNG MIẾU KHÚC PHỤ - TẾ NINH - SƠN ĐÔNG -TRUNG QUỐC Slide 2: QUFU - KHÚC PHỤ Slide 3: Thành phố KHÚC PHỤ Quê hương của KHỔNG TỬ Slide 13: KHỔNG MIẾU KONG MIAO - TEMPLE OF CONFUCIUS Slide 14: KHỔNG MIẾU Khổng Miếu nằm trong khuôn viên hình chữ nhật, chiều dài Nam Bắc 1300m, tổng diện tích 133.000m². Toàn bộ có 9 dãy kiến trúc liền kề với sân vườn, xếp hàng dọc trên một trục chính Nam Bắc, hai bên trục đối xứng nhau, mặt chính của miếu là hướng Nam. Tòa cửa thứ nhất của Khổng Miếu là Linh Tinh Môn cao 10,3m rộng 13m được xây dựng thời Minh Vĩnh Lạc. Cửa này xây để cúng sao Thiên Điền trên trời, đều này thể hiện việc các Hoàng đế thời xưa cúng tế Khổng Tử như cúng tế trời, tôn thánh như tôn thiên. Hai bên cửa Linh Tinh đặt hai tấm bia đá lớn đề hàng chữ "quan viên hãy xuống ngựa". Phía sau cửa thứ 5 của Khổng Miếu là một tòa lầu cao làm bằng gỗ gọi là Khuê Văn Các, xây dựng thời Tống Thiên Hỷ (Khuê là sao Khuê chủ quản sự hưng vong của văn chương dân gian). Khuê Văn Các cao 23,35m rộng 30m, ba tầng mái cong. Kiến trúc chủ thể của Khổng Miếu là Đại Thành điện, nơi các Hoàng đế đến thờ cúng Khổng Tử. Đại Thành điện xây từ thời nhà Tống nhưng đến thời Ung Chính mới được trùng tu thành quy mô lớn. Slide 28: ĐẠI THÀNH ĐIỆN Slide 46: KHUÊ VĂN CÁC Slide 62: Khổng Phu Tử, minh hoạ trong cuốn Thần thoại và Truyền thuyết Trung Hoa, 1922, của E.T.C. Werner ĐỨC KHỔNG PHU TỬ - CONFUCIUS : ĐỨC KHỔNG PHU TỬ - CONFUCIUS Khổng Tử (chữ Hán: 孔子; còn gọi là Khổng Phu Tử 孔夫子; 27 tháng 8 âm, 551 – 479 TCN) là một nhà tư tưởng, nhà triết học xã hội nổi tiếng ngườiTrung Hoa, các bài giảng và triết lý của ông có ảnh hưởng rộng lớn đối với đời sống và tư tưởng của các nền văn hóa Đông Á. Triết học của ông nhấn mạnh trên cá nhân và cai trị bằng đạo đức, sự chính xác của những mối quan hệ xã hội, sự công bằng và sự trung thực. Các giá trị đó đã có được tầm ảnh hưởng lớn trên mọi học thuyết khác ở Trung Quốc như Pháp gia hay Đạo gia trong suốt triều đại nhà Hán. Các tư tưởng của Khổng Tử đã được phát triển thành một hệ thống triết học được gọi là Khổng giáo. Khổng giáo được một người Italia là Matteo Ricci đưa vào Châu Âu, ông cũng là người đầu tiên La tinh hoá tên Khổng Tử thành "Confucius". Tư tưởng của ông còn được xem là một tôn giáo lớn của loài người, nhất là dân tộc Trung Hoa. Các bài giảng của Khổng Tử được nghiên cứu chủ yếu qua cuốn Luận Ngữ, một tập hợp những "mẩu chuyện cách ngôn ngắn", được biên soạn nhiều năm sau khi ông qua đời. Trong gần 2.000 năm ông được cho là người biện soạn hoặc tác giả của Ngũ Kinh, chẳng hạn như Kinh Lễ (soạn giả), và Biên niên sử Xuân Thu (tác giả). TIỂU SỬ ĐỨC KHỔNG PHU TỬ : TIỂU SỬ ĐỨC KHỔNG PHU TỬ Tam thập nhi lập; (三十而立)Tứ thập nhi bất hoặc; (四十而不惑)Ngũ thập nhi tri thiên mệnh; (五十而知天命)Lục thập nhi nhĩ thuận; (六十而耳順)Thất thập nhi tòng tâm dục bất du củ. (七十而從心欲,不踰矩)(Luận Ngữ)Khổng Tử tên là Khâu, tự là Trọng Ni 仲尼, sinh ngày 27 tháng 8 năm 551 trước Công nguyên, vào thời Xuân Thu trong lịch sử Trung Quốc, tại ấp Trâu, làng Xương Bình, nước Lỗ (nay là huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc). Nhiều sử sách ghi rằng ông sinh trong một gia cảnh nghèo, nhưng thực tế gia đình ông có ông tổ ba đời vốn thuộc dòng quí tộc sa sút từ nước Tống dời đến nước Lỗ. Cha của Khổng Khâu, Thúc Lương Ngột (cháu 13 đời của Vi Tử Diễn, anh của vua Trụ nhà Thương) là quan võ thuộc ấp Trâu, đến 70 tuổi mới lấy Nhan thị mà sinh ra ông. Năm lên ba, Khâu mồ côi cha, lớn lên, phải làm lụng vất vả để nuôi mẹ, nhưng rất ham học. Năm 19 tuổi, ông lấy vợ và làm một chức quan nhỏ coi kho. Năm 22 tuổi, ông mở lớp dạy học. Học trò gọi ông là Khổng Phu Tử 孔夫子, hay gọi gọn hơn là Khổng Tử 孔子. 'Tử' ngoài ý nghĩa là 'con' ra còn có nghĩa là "Thầy". Do vậy Khổng Tử 孔子 là Thầy Khổng. Trong suốt gần 20 năm, từ năm 34 tuổi, Khổng Tử dẫn học trò đi khắp các nước trong vùng để truyền bá các tư tưởng và tìm người dùng các tư tưởng đó. Có nơi ông được trọng dụng nhưng cũng có nơi ông bị coi thường. Năm 51 tuổi, ông quay lại nước Lỗ và được giao coi thành Trung Đô, năm sau được thăng chức Đại tư khấu (coi việc hình pháp), kiêm quyền tể tướng. Sau ba tháng, nước Lỗ trở nên thịnh trị. Nhưng rồi bị ly gián, gièm pha, ông bèn từ chức và lại ra đi một lần nữa. Năm 68 tuổi, Khổng Tử trở về nước Lỗ, tiếp tục dạy học và bắt tay vào soạn sách. Trong những năm cuối cùng này ông đã soạn ra bộ Luận Ngữ. Ông mất tháng 4 năm 479 TCN, thọ 73 tuổi. Slide 65: Tên gọi Khi dịch sách Trung Quốc sang các ngôn ngữ phương Tây, các thầy tu dòng Tên đã dịch 孔夫子 thành Confucius. Cách Latinh hóa tên Khổng Tử này từ đó đã được sử dụng rộng rãi ở các nước phương Tây. Theo Latinh hoá: Kǒng Fūzǐ (hay Kǒng fū zǐ) trong bính âm. K'ung fu-tze trong Wade-Giles (hay, kém chính xác hơn, Kung fu-tze). Fūzǐ (Phu Tử) có nghĩa là nhà giáo. Bởi vì theo văn hóa Trung Quốc việc gọi thầy bằng tên là bất kính, ông chỉ được gọi là "Thầy Khổng",cho tới tận ngày nay. Từ 'fu' (Phu) không bắt buộc, vì thế ông cũng thường được gọi là Khổng Tử. Tên thật của ông là 孔丘, Khổng Khâu. Khổng là một họ phổ biến ở Trung Quốc. Tên hiệu của ông là 仲尼, Trọng Ni. Năm thứ 1 sau Công Nguyên (năm đầu thời Nguyên Thuỷ Nhà Hán), ông được trao thụy hiệu đầu tiên: 褒成宣尼公, Bao Thành Tuyên Ni Công, có nghĩa "Ngài Ni (Khổng Tử) Công Đức Đáng Ca Ngợi." Các thụy hiệu nổi tiếng nhất của ông là 至聖先師, Chí Thánh Tiên Sư, nghĩa "Bậc Thầy Đời Trước Đã Đạt Tới Bậc Thánh" (từ năm Gia Tĩnh thứ 9, Nhà Minh (năm 1530)); 至聖, Chí Thánh, "Bậc Thánh"; 先師, Tiên Sư, "Bậc Thầy Đầu Tiên". Tại Đài Loan, ông cũng thường được gọi là 萬世師表, Vạn Thế Sư Biểu, "Bậc Thầy Của Muôn Đời". Slide 77: Tranh và tượng KHỔNG TỬ có ở khắp nơi trên đất nước Trung Quốc và một số nước khác Slide 83: http://my.opera.com/vinhbinhpro http://my.opera.com/bachkien http://chieuquetoi.blogspot.com Hình ảnh : INTERNETwww.picasaweb.google.comvà các website khácCám ơn các tác giả có tác phẩm góp vào tập pps này.Các tác phẩm của Quí vị giúp cho đời thêm đẹp.Biên tập pps: vinhbinhpro,bachkien, chieuquetoi Chiếu hình trên blog : Slide 84: KONG MIAO Temple of CONFUCIUS QUFU-JINING-SHANGDONG-CHINA KHỔNG MIẾU KHÚC PHỤ - TẾ NINH - SƠN ĐÔNG -TRUNG QUỐC You do not have the permission to view this presentation. In order to view it, please contact the author of the presentation.
KHỔNG MIẾU-KONG MIAO -Temple of Confucius vinhbinh Download Post to : URL : Related Presentations : Share Add to Flag Embed Email Send to Blogs and Networks Add to Channel Uploaded from authorPOINT lite Insert YouTube videos in PowerPont slides with aS Desktop Copy embed code: (To copy code, click on the text box) Embed: URL: Thumbnail: WordPress Embed Customize Embed The presentation is successfully added In Your Favorites. Views: 143 Category: Travel/ Places.. License: All Rights Reserved Like it (2) Dislike it (0) Added: January 23, 2011 This Presentation is Public Favorites: 0 Presentation Description No description available. Comments Posting comment... Premium member Presentation Transcript CONFUCIUS : CONFUCIUS KONG MIAO Temple of CONFUCIUS QUFU-JINING-SHANGDONG-CHINA KHỔNG MIẾU KHÚC PHỤ - TẾ NINH - SƠN ĐÔNG -TRUNG QUỐC Slide 2: QUFU - KHÚC PHỤ Slide 3: Thành phố KHÚC PHỤ Quê hương của KHỔNG TỬ Slide 13: KHỔNG MIẾU KONG MIAO - TEMPLE OF CONFUCIUS Slide 14: KHỔNG MIẾU Khổng Miếu nằm trong khuôn viên hình chữ nhật, chiều dài Nam Bắc 1300m, tổng diện tích 133.000m². Toàn bộ có 9 dãy kiến trúc liền kề với sân vườn, xếp hàng dọc trên một trục chính Nam Bắc, hai bên trục đối xứng nhau, mặt chính của miếu là hướng Nam. Tòa cửa thứ nhất của Khổng Miếu là Linh Tinh Môn cao 10,3m rộng 13m được xây dựng thời Minh Vĩnh Lạc. Cửa này xây để cúng sao Thiên Điền trên trời, đều này thể hiện việc các Hoàng đế thời xưa cúng tế Khổng Tử như cúng tế trời, tôn thánh như tôn thiên. Hai bên cửa Linh Tinh đặt hai tấm bia đá lớn đề hàng chữ "quan viên hãy xuống ngựa". Phía sau cửa thứ 5 của Khổng Miếu là một tòa lầu cao làm bằng gỗ gọi là Khuê Văn Các, xây dựng thời Tống Thiên Hỷ (Khuê là sao Khuê chủ quản sự hưng vong của văn chương dân gian). Khuê Văn Các cao 23,35m rộng 30m, ba tầng mái cong. Kiến trúc chủ thể của Khổng Miếu là Đại Thành điện, nơi các Hoàng đế đến thờ cúng Khổng Tử. Đại Thành điện xây từ thời nhà Tống nhưng đến thời Ung Chính mới được trùng tu thành quy mô lớn. Slide 28: ĐẠI THÀNH ĐIỆN Slide 46: KHUÊ VĂN CÁC Slide 62: Khổng Phu Tử, minh hoạ trong cuốn Thần thoại và Truyền thuyết Trung Hoa, 1922, của E.T.C. Werner ĐỨC KHỔNG PHU TỬ - CONFUCIUS : ĐỨC KHỔNG PHU TỬ - CONFUCIUS Khổng Tử (chữ Hán: 孔子; còn gọi là Khổng Phu Tử 孔夫子; 27 tháng 8 âm, 551 – 479 TCN) là một nhà tư tưởng, nhà triết học xã hội nổi tiếng ngườiTrung Hoa, các bài giảng và triết lý của ông có ảnh hưởng rộng lớn đối với đời sống và tư tưởng của các nền văn hóa Đông Á. Triết học của ông nhấn mạnh trên cá nhân và cai trị bằng đạo đức, sự chính xác của những mối quan hệ xã hội, sự công bằng và sự trung thực. Các giá trị đó đã có được tầm ảnh hưởng lớn trên mọi học thuyết khác ở Trung Quốc như Pháp gia hay Đạo gia trong suốt triều đại nhà Hán. Các tư tưởng của Khổng Tử đã được phát triển thành một hệ thống triết học được gọi là Khổng giáo. Khổng giáo được một người Italia là Matteo Ricci đưa vào Châu Âu, ông cũng là người đầu tiên La tinh hoá tên Khổng Tử thành "Confucius". Tư tưởng của ông còn được xem là một tôn giáo lớn của loài người, nhất là dân tộc Trung Hoa. Các bài giảng của Khổng Tử được nghiên cứu chủ yếu qua cuốn Luận Ngữ, một tập hợp những "mẩu chuyện cách ngôn ngắn", được biên soạn nhiều năm sau khi ông qua đời. Trong gần 2.000 năm ông được cho là người biện soạn hoặc tác giả của Ngũ Kinh, chẳng hạn như Kinh Lễ (soạn giả), và Biên niên sử Xuân Thu (tác giả). TIỂU SỬ ĐỨC KHỔNG PHU TỬ : TIỂU SỬ ĐỨC KHỔNG PHU TỬ Tam thập nhi lập; (三十而立)Tứ thập nhi bất hoặc; (四十而不惑)Ngũ thập nhi tri thiên mệnh; (五十而知天命)Lục thập nhi nhĩ thuận; (六十而耳順)Thất thập nhi tòng tâm dục bất du củ. (七十而從心欲,不踰矩)(Luận Ngữ)Khổng Tử tên là Khâu, tự là Trọng Ni 仲尼, sinh ngày 27 tháng 8 năm 551 trước Công nguyên, vào thời Xuân Thu trong lịch sử Trung Quốc, tại ấp Trâu, làng Xương Bình, nước Lỗ (nay là huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc). Nhiều sử sách ghi rằng ông sinh trong một gia cảnh nghèo, nhưng thực tế gia đình ông có ông tổ ba đời vốn thuộc dòng quí tộc sa sút từ nước Tống dời đến nước Lỗ. Cha của Khổng Khâu, Thúc Lương Ngột (cháu 13 đời của Vi Tử Diễn, anh của vua Trụ nhà Thương) là quan võ thuộc ấp Trâu, đến 70 tuổi mới lấy Nhan thị mà sinh ra ông. Năm lên ba, Khâu mồ côi cha, lớn lên, phải làm lụng vất vả để nuôi mẹ, nhưng rất ham học. Năm 19 tuổi, ông lấy vợ và làm một chức quan nhỏ coi kho. Năm 22 tuổi, ông mở lớp dạy học. Học trò gọi ông là Khổng Phu Tử 孔夫子, hay gọi gọn hơn là Khổng Tử 孔子. 'Tử' ngoài ý nghĩa là 'con' ra còn có nghĩa là "Thầy". Do vậy Khổng Tử 孔子 là Thầy Khổng. Trong suốt gần 20 năm, từ năm 34 tuổi, Khổng Tử dẫn học trò đi khắp các nước trong vùng để truyền bá các tư tưởng và tìm người dùng các tư tưởng đó. Có nơi ông được trọng dụng nhưng cũng có nơi ông bị coi thường. Năm 51 tuổi, ông quay lại nước Lỗ và được giao coi thành Trung Đô, năm sau được thăng chức Đại tư khấu (coi việc hình pháp), kiêm quyền tể tướng. Sau ba tháng, nước Lỗ trở nên thịnh trị. Nhưng rồi bị ly gián, gièm pha, ông bèn từ chức và lại ra đi một lần nữa. Năm 68 tuổi, Khổng Tử trở về nước Lỗ, tiếp tục dạy học và bắt tay vào soạn sách. Trong những năm cuối cùng này ông đã soạn ra bộ Luận Ngữ. Ông mất tháng 4 năm 479 TCN, thọ 73 tuổi. Slide 65: Tên gọi Khi dịch sách Trung Quốc sang các ngôn ngữ phương Tây, các thầy tu dòng Tên đã dịch 孔夫子 thành Confucius. Cách Latinh hóa tên Khổng Tử này từ đó đã được sử dụng rộng rãi ở các nước phương Tây. Theo Latinh hoá: Kǒng Fūzǐ (hay Kǒng fū zǐ) trong bính âm. K'ung fu-tze trong Wade-Giles (hay, kém chính xác hơn, Kung fu-tze). Fūzǐ (Phu Tử) có nghĩa là nhà giáo. Bởi vì theo văn hóa Trung Quốc việc gọi thầy bằng tên là bất kính, ông chỉ được gọi là "Thầy Khổng",cho tới tận ngày nay. Từ 'fu' (Phu) không bắt buộc, vì thế ông cũng thường được gọi là Khổng Tử. Tên thật của ông là 孔丘, Khổng Khâu. Khổng là một họ phổ biến ở Trung Quốc. Tên hiệu của ông là 仲尼, Trọng Ni. Năm thứ 1 sau Công Nguyên (năm đầu thời Nguyên Thuỷ Nhà Hán), ông được trao thụy hiệu đầu tiên: 褒成宣尼公, Bao Thành Tuyên Ni Công, có nghĩa "Ngài Ni (Khổng Tử) Công Đức Đáng Ca Ngợi." Các thụy hiệu nổi tiếng nhất của ông là 至聖先師, Chí Thánh Tiên Sư, nghĩa "Bậc Thầy Đời Trước Đã Đạt Tới Bậc Thánh" (từ năm Gia Tĩnh thứ 9, Nhà Minh (năm 1530)); 至聖, Chí Thánh, "Bậc Thánh"; 先師, Tiên Sư, "Bậc Thầy Đầu Tiên". Tại Đài Loan, ông cũng thường được gọi là 萬世師表, Vạn Thế Sư Biểu, "Bậc Thầy Của Muôn Đời". Slide 77: Tranh và tượng KHỔNG TỬ có ở khắp nơi trên đất nước Trung Quốc và một số nước khác Slide 83: http://my.opera.com/vinhbinhpro http://my.opera.com/bachkien http://chieuquetoi.blogspot.com Hình ảnh : INTERNETwww.picasaweb.google.comvà các website khácCám ơn các tác giả có tác phẩm góp vào tập pps này.Các tác phẩm của Quí vị giúp cho đời thêm đẹp.Biên tập pps: vinhbinhpro,bachkien, chieuquetoi Chiếu hình trên blog : Slide 84: KONG MIAO Temple of CONFUCIUS QUFU-JINING-SHANGDONG-CHINA KHỔNG MIẾU KHÚC PHỤ - TẾ NINH - SƠN ĐÔNG -TRUNG QUỐC