Viêt Nam11-Miền Nam Xưa-TLTP

Views:
 
Category: Entertainment
     
 

Presentation Description

No description available.

Comments

Presentation Transcript

Slide 1: 

VIỆT NAM (11) Miền Nam Xưa-Cochinchine Nguồn: Internet Nhạc: Hình Bóng Quê Nhà Ca sĩ: Hương Lan Soạn thảo & Thực hiện PPS: Trần Lê Túy-Phượng

Slide 2: 

Nam Kỳ trước đây là lãnh thổ của nước Phù Nam và Chân Lạp. Vào thế kỷ 17, Nam Kỳ là vùng đất hoang sơ, được Chúa Nguyễn ở Đàng Trong khai phá. Một số quan lại, tướng tá nhà Minh sau khi chống nhà Thanh thất bại, trốn sang Việt Nam được Chúa Nguyễn cho khai phá vùng này. Một nhóm khoảng 5000 người Hoa do Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên cầm đầu vào khai khẩn vùng Mỹ Tho, Biên Hòa, một nhóm khác do Mạc Cửu cầm đầu tiến vào tận Hà Tiên khai khẩn. Năm 1859, Pháp đánh chiếm thành Gia Định, mở đầu cuộc xâm lược Việt Nam. Năm 1862, ngày 13 tháng 4, triều đình Huế cắt 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ (Biên Hòa, Gia Định và Định Tường) nhượng cho Pháp. Năm 1867, Pháp đơn phương tuyên bố toàn bộ 6 tỉnh Nam Kỳ là lãnh địa của Pháp. Từ đó, Nam Kỳ được hưởng quy chế thuộc địa, với chính quyền thực dân, đứng đầu là một Thống đốc người Pháp. Hiệp ước Quý Mùi (25 tháng 8 năm 1883) nhập thêm tỉnh Bình Thuận vào Nam Kỳ (thuộc địa Pháp) coi như trừ số tiền bồi thường chiến phí còn lại mà triều đình Huế chưa trả hết, nhưng năm sau, Hiệp ước Giáp Thân (6 tháng 6 năm 1884) lại trả tỉnh Bình Thuận về cho Trung Kỳ. Năm 1887, Nam Kỳ trở thành một vùng lãnh thổ nằm trong Liên bang Đông Dương. Năm 1933, quần đảo Trường Sa sát nhập vào Nam Kỳ thuộc Pháp. Tháng 3 năm 1945 Thống sứ Nhật Nashimura đổi Nam Kỳ thành Nam Bộ. Mãi đến năm 1945, thời Đế quốc Việt Nam với chính phủ Trần Trọng Kim tuyên bố sáp nhập Nam Kỳ lại thành một bộ phận của nước Việt Nam độc lập. Ngày 23 tháng 9 năm 1945, chưa đầy một tháng sau khi độc lập, Pháp đã nổ súng gây chiến ở Sài Gòn rồi mở rộng đánh chiếm Nam Bộ. Pháp đã lập ra thể chế Nam Kỳ Quốc hòng tách khu vực này ra khỏi Việt Nam. Không đánh bại được Việt Minh, Pháp phải dùng "giải pháp Bảo Đại", công nhận nền độc lập và sự thống nhất của Việt Nam. Ngày 22 tháng 5 năm 1949, Quốc hội Pháp chính thức bỏ phiếu thông qua việc trả Nam Bộ cho Việt Nam. Nam Bộ trở thành lãnh thổ nằm trong Quốc Gia Việt Nam.

Slide 3: 

Nguồn gốc tên gọi Cochinchine trong tiếng Pháp được các nhà nghiên cứu giải thích theo nhiều cách khác nhau. Tuy nhiên, giả thuyết phổ biến nhất là tên gọi Cochin hay Cocin gốc từ Coci là phiên âm của chữ Giao Chỉ. Do sợ lầm với thành phố cảng Ấn Độ Cochin, nên người phương Tây thêm hậu tố chine/china (Trung Hoa), ý nói Cochin gần Trung Hoa để phân biệt. Từ Cochinchine (hoặc các biến thể Cocinchina, Cauchinchina, Cochinchina) ban đầu dùng để gọi toàn bộ Việt Nam. Đến đầu thế kỷ 17, khi Trịnh-Nguyễn phân tranh, nước Việt Nam phân đôi thành Đàng Trong và Đàng Ngoài, thì Cochinchine được dùng để chỉ Đàng Trong, còn Tonkin chỉ Đàng Ngoài. Về sau Cochinchine mới được dùng để chỉ Nam Kỳ, khi đó Annam chỉ Trung Kỳ. Nam Bộ xưa được mệnh danh là xứ Đồng Nai. Năm 1698, xứ Đồng Nai được thiết lập phủ huyện. Phủ Gia Định bao gồm toàn thể đất Nam Bộ và tồn tại suốt từ đó đến năm 1802 thì đổi thành trấn Gia Định. Năm 1808, vua Gia Long nhà Nguyễn đổi trấn Gia Định thành Gia Định Thành, bao gồm 5 trấn: Phiên An (địa hạt Gia Định), Biên Hòa, Vĩnh Thanh (sau chia ra Vĩnh Long và An Giang), Vĩnh Tường (sau này là Định Tường) và Hà Tiên. Năm 1832, vua Minh Mạng đã đặt ra Nam Kỳ và chia thành 6 tỉnh nên gọi là Nam Kỳ Lục Tỉnh hay Lục Tỉnh. Đó là các tỉnh: Phiên An, năm 1836 đổi thành Gia Định (tỉnh lỵ là tỉnh thành Sài Gòn), Biên Hòa (tỉnh lỵ là tỉnh thành Biên Hòa), Định Tường (tỉnh lỵ là tỉnh thành Mỹ Tho) ở miền Đông; Vĩnh Long (tỉnh lỵ là tỉnh thành Vĩnh Long), An Giang (tỉnh lỵ là tỉnh thành Châu Đốc) và Hà Tiên (tỉnh lỵ là tỉnh thành Hà Tiên) ở miền Tây. Sau khi chiếm xong ba tỉnh miền Đông gồm Gia Định, Định Tường, Biên Hòa (1862) và ba tỉnh miền Tây gồm Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên (1867), thực dân Pháp xóa bỏ cách phân chia địa giới hành chánh cũ của triều Nguyễn.

Slide 4: 

Lúc đầu Pháp gọi département thay cho phủ, gọi arrondissement thay cho huyện. Khoảng năm 1868, Nam Kỳ có hơn hai mươi arrondissement (lúc này tiếng Việt gọi là "hạt", "địa hạt", "hạt tham biện" hay "tiểu khu", do tham biện cai trị). Đứng đầu arrondissement là administeur, tiếng Việt gọi là chánh tham biện. Dinh hành chánh gọi là tòa tham biện nhưng dân cũng quen gọi là tòa bố (giống như dinh quan bố chánh của nhà Nguyễn cũ). Tham biện dưới quyền Thống đốc đóng ở Sài Gòn. Giúp việc chánh tham biện là hai phó tham biện; thư ký địa hạt cũng gọi là bang biện tức là secrétaire d’arrondissement. Đến năm 1871 giảm còn 18 hạt, năm 1876 thì tăng lên 19 hạt. Năm 1876, Pháp chia Nam Kỳ thành 4 khu vực hành chính lớn, gọi là circonscription administrative, mỗi khu vực lại được chia nhỏ thành các "hạt" (arrondissement) như sau: Khu vực Sài Gòn có 5 tiểu khu: Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Bà Rịa và Gia Định Khu vực Mỹ Tho có 4 tiểu khu: Mỹ Tho, Gò Công, Tân An và Chợ Lớn Khu vực Vĩnh Long có 4 tiểu khu: Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh và Sa Đéc Khu vực Bát Xắc có 6 tiểu khu: Châu Đốc, Hà Tiên, Long Xuyên, Rạch Giá, Cần Thơ và Sóc Trăng. Mỗi hạt có Hội đồng Quản hạt, tức Conseils d'arrondissement làm nghị hội. Hội viên được bầu vào là người Việt. Ngày 8 tháng 1 năm 1877, Tổng thống Pháp ra Sắc lệnh thành lập thành phố cấp 1 (municipalité de première classe) Sài Gòn, đứng đầu là một viên Đốc lý (Maire). Sắc lệnh này được ban hành ngày 16 tháng 5 năm đó. Ngày 20 tháng 10 năm 1879, Thống đốc Nam Kỳ ra Nghị định thành lập thành phố cấp 2 (municipalité de deuxième classe) Chợ Lớn, tương đương cấp tỉnh sau này. Đứng đầu thành phố cũng là một viên Đốc lý. Năm 1882, Thống đốc Nam Kỳ lập thêm một hạt (tiểu khu) mới là hạt Bạc Liêu thuộc khu vực Bát Xắc từ đất của 2 tổng của hạt Sóc Trăng và 3 tổng của hạt Rạch Giá.

Slide 5: 

Như vậy toàn bộ Nam Kỳ có 20 hạt. Năm 1895 lập thêm thành phố tự trị (commune autonome) Cap Saint Jacques (Vũng Tàu), tách từ hạt Bà Rịa (Cap Saint Jacques nhập vào hạt Bà Rịa năm 1898 để rồi năm sau lại tách ra). Năm 1899, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định đổi tên gọi "hạt" thành "tỉnh" (province) và chia Nam Kỳ thành 3 miền. Đồng thời, chức tham biện đổi thành chủ tỉnh (chef de province), tòa tham biện gọi là tòa bố. Như vậy Nam Kỳ có tất cả 20 tỉnh, phân bố như sau: Miền Đông có 4 tỉnh: Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Biên Hòa và Bà Rịa Miền Trung có 9 tỉnh: Gia Định, Chợ Lớn, Mỹ Tho, Gò Công, Tân An, Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh và Sa Đéc Miền Tây có 7 tỉnh: Châu Đốc, Hà Tiên, Long Xuyên, Rạch Giá, Cần Thơ, Sóc Trăng và Bạc Liêu. Ngoài ra còn có 3 thành phố Sài Gòn (cấp 1), Chợ Lớn (cấp 2), thành phố tự trị Cap Saint Jacques và Côn Đảo không thuộc tỉnh nào. Năm 1905, xóa bỏ thành phố Cap Saint Jacques, chuyển thành đại lý hành chính thuộc tỉnh Bà Rịa. Vài chục năm sau mới chia tỉnh ra quận (délégation) dưới quyền chủ quận; quận chia ra tổng (canton), đứng đầu là cai tổng (chef de canton). Tổng chia thành xã. Năm 1913 ba tỉnh bị sáp nhập: Gò Công vào Mỹ Tho, Sa Đéc vào Vĩnh Long, Hà Tiên vào Châu Đốc nên Nam Kỳ còn 17 tỉnh. Đến năm 1924 các tỉnh này lại được tách ra như cũ. Chú thích: Theo ông Nguyễn Q. Thắng, nhà Nguyễn đặt tên lục tỉnh dựa theo 6 từ cuối của một câu thơ cổ: Khoái mã gia biên vĩnh định an hà (nghĩa: Phóng ngựa ra roi giữ yên non nước). Do đó, các tỉnh có tên: Gia Định, Biên Hòa, Vĩnh Long, Định Tường, An Giang và Hà Tiên.

Slide 6: 

Bản đồ Miền Nam (1872) với sáu tỉnh: Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên

Slide 7: 

Kiến trúc chùa Chàm

Slide 8: 

Cày ruộng

Slide 9: 

Giã gạo

Slide 10: 

Miền quê Gia Định

Slide 11: 

Di chuyển trên sông rạch

Slide 12: 

Giặt giũ trên sông

Slide 13: 

Vận chuyển trên sông

Slide 14: 

Vận chuyển trên rạch

Slide 15: 

Ghe Tam Bản

Slide 16: 

Lùa trâu trên sông

Slide 17: 

Lùa trâu về chuồng

Slide 18: 

Sạp trái cây

Slide 19: 

Toàn cảnh khu vực chợ Bến Thành

Slide 20: 

Chợ Bến Thành và văn phòng của công ty hỏa xa

Slide 21: 

Mặt tiền chợ Bến Thành

Slide 22: 

Chợ Bến Thành

Slide 23: 

Phía trước Nhà Hát Lớn

Slide 24: 

Nhà Hát Lớn

Slide 25: 

Mặt tiền Nhà Hát Lớn

Slide 26: 

Toàn cảnh Dinh Norodom

Slide 27: 

Sân trước Dinh Norodom

Slide 28: 

Dinh Thống Đốc

Slide 29: 

Tòa án Sài Gòn

Slide 30: 

Cổng vào Tòa Án

Slide 31: 

Tòa Đô Chính

Slide 32: 

Sở Dây Thép (Nhà Bưu Điện)

Slide 33: 

Nhà Thờ Đức Bà, Sài Gòn. Nhà thờ được xây từ năm 1877 đến năm 1880. Thuở mới xây, 2 tháp chưa có chóp nhọn. 2 chóp này được xây dựng thêm vào năm 1895.

Slide 34: 

Nhà Thờ Đức Bà và Sở Dây Thép

Slide 35: 

Sân trước Nhà Thờ Đức Bà và Sở Dây Thép

Slide 36: 

Mặt tiền Sở Dây Thép

Slide 37: 

Đường Lagrandière (đường Lý Tự Trọng ngày nay)

Slide 38: 

Kinh Lớn, trước khi bị lấp để làm đường Charner.

Slide 39: 

Công nhân làm đường Charner (Nguyễn Huệ ngày nay), đầu thế kỷ 20

Slide 40: 

Toàn cảnh Đại lộ Charner (Nguyễn Huệ ngày nay)

Slide 41: 

Đại lộ Charner bên bến sông Sài Gòn

Slide 42: 

Đại lộ Charner và Tòa Đô Chính

Slide 43: 

Đại lộ Catinat (Tự Do – Đồng Khởi ngày nay) trước Nhà Hát Lớn

Slide 44: 

Đại lộ Catinat qua khỏi Nhà Hát Lớn

Slide 45: 

Đường Adran (đường Hồ Tùng Mậu ngày nay)

Slide 46: 

Xe ngựa trên đường Adran

Slide 47: 

Sài Gòn Taxi

Slide 48: 

Một khu vực quân sự nằm trên Đại lộ Norodom

Slide 49: 

Đường Bankok (đường Mạc Đỉnh Chi ngày nay)

Slide 50: 

Cầu và bến tàu

Slide 51: 

Cửa vào cảng Sài Gòn

Slide 52: 

Sông Sài Gòn

Slide 53: 

Bến Nhà Rồng, nằm ngay ngã ba rạch Bến Nghé và sông Sài Gòn. Toà nhà này được xây dựng từ năm 1863, nguyên là nơi ở của tổng quản lý và nơi bán vé tàu công ty vận tải đường biển Pháp - Messageries Maritimes.

Slide 54: 

Toàn cảnh trường Collège Petrus Ký

Slide 55: 

Cổng trường Collège Chasseloup Laubat

Slide 56: 

Cổng vào kho vũ khí

Slide 57: 

Ga xe lửa

Slide 58: 

Lên hàng

Slide 59: 

Một chùa ở Cần Giờ

Slide 60: 

Một chùa ở Đa Kao

Slide 61: 

Một chùa ở Cầu Ông Lảnh

Slide 62: 

Bến chợ Cầu Ông Lảnh

Slide 63: 

Bà hàng mía - Cầu Ông Lảnh

Slide 64: 

Đường vào Chợ Lớn

Slide 65: 

Sông vào Chợ Lớn

Slide 66: 

Nhánh sông trong phố Tàu – Chợ Lớn

Slide 67: 

Nhánh sông ở Chợ Lớn

Slide 68: 

Phòng Thanh Tra – Chợ Lớn

Slide 69: 

Một chùa trong Chợ Lớn

Slide 70: 

Xe lửa - Chợ Lớn

Slide 71: 

Nhà hát người Hoa trên đường Paris – Chợ Lớn

Slide 72: 

Đường đến Bình Lợi – Gia Định

Slide 73: 

Đài kỷ niệm Doudar de la Grèe

Slide 74: 

Tượng đài Gambetta

Slide 75: 

Tượng đài Rigault de Genouilly

Slide 76: 

Tượng đài Giám Mục Adran

Slide 77: 

Gấu trong Thảo Cầm Viên Sài Gòn (Jardin Botanique)

Slide 78: 

Một khu vực trong Thảo Cầm Viên

Slide 79: 

Voi trong Thảo Cầm Viên

Slide 80: 

Hồ sen trong Thảo Cầm Viên

Slide 81: 

Một khu làng trong Thảo Cầm Viên

Slide 82: 

Một cổ thụ trong Thảo Cầm Viên

Slide 83: 

Một khu vực khác trong Thảo cầm viên

Slide 84: 

Thủ Dầu Một

Slide 85: 

Tư gia của Thống Đốc ở Mỹ Tho

Slide 86: 

Cầu vào Long Xuyên – phía sau là Sở Quan Thuế

Slide 87: 

Tòa Thị Chính ở Long Xuyên

Slide 88: 

Người lưới cá - Sa Đéc

Slide 89: 

Phòng Thanh Tra - Vĩnh Long

Slide 90: 

Bãi biển Vũng Tàu (Cap Saint Jacques)

Slide 91: 

Đồn lính ở Bến Đình - Vũng Tàu

Slide 92: 

Chợ Vũng Tàu

Slide 93: 

Một vi la trên bãi biển Vũng Tàu

Slide 94: 

CHÚC AN LẠC Trần Lê Túy-Phượng Xin đón xem phần 12 – “Miền Bắc - Tonkin” Deep thanks to all those who help make these historical documents available.

authorStream Live Help