Tết Nguyên Đán_TLTP

Views:
 
Category: Education
     
 

Presentation Description

Tết Nguyên Đán. Tết. Xuân mới.

Comments

Presentation Transcript

Slide1:

Tết Nguyên Đán Bính Thân 2016 PPS: Trần Lê Túy Phượng Click Chuột Nhạc : Xuân Miền Nam

Slide2:

Tết Nguyên Đ án (hay còn gọi là Tết Cả , Tết Ta , Tết Âm L ịch , Tết Cổ T ruyền , N ăm M ới hay chỉ đơn giản Tết ) là dịp lễ quan trọng nhất trong văn hóa của người Việt Nam và một số các dân tộc chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa khác. Chữ "Tết" do chữ "Tiết" ( 節 ) mà thành. Hai chữ "Nguyên Đ án" ( 元旦 ) có gốc chữ Hán; “ N guyên" có nghĩa là sự khởi đầu hay sơ khai và “ Đ án" là buổi sáng sớm. Cho nên đọc đúng phiên âm phải là "Tiết Nguyên Đán” , Tân N iên ( 新年 ) hoặc Nông L ịch T ân N iên ( 農曆新年 ) . Vì Trung Hoa và một số nước chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa dùng lịch pháp theo chu kỳ vận hành của mặt trăng nên Tết Nguyên Đán muộn hơn Tết Dương L ịch (còn gọi nôm na là Tết Tây). Do quy luật 3 năm nhuận một tháng của Âm lịch nên ngày đầu năm của dịp Tết Nguyên Đ án không bao giờ trước ngày 21 tháng 1 Dương lịch và sau ngày 19 tháng 2 Dương lịch mà thường rơi vào khoảng cuối tháng 1 đến giữa tháng 2 Dương lịch. Toàn bộ dịp Tết Nguyên Đ án hàng năm thường kéo dài trong khoảng 7 đến 8 ngày cuối năm cũ và 7 ngày đầu năm mới (23 tháng Chạp đến hết ngày 7 tháng Giêng). Từ “N guyên ” : Nguyên nghĩa của Tết chính là “ T iết ” . Văn hóa Đông Á – thuộc văn minh nông nghiệp lúa nước – do nhu cầu canh tác nông nghiệp đã "phân chia" thời gian trong một năm thành 24 t iết khác nhau (và ứng với mỗi t iết này có một thời khắc "giao thời") trong đó tiết quan trọng nhất là tiết khởi đầu của một chu kỳ canh tác, gieo trồng, tức là Tiết Nguyên Đán sau này được biết đến là Tết Nguyên Đán .

Slide3:

Nguồn gốc ra đời Theo lịch sử Trung Hoa , nguồn gốc Tết Nguyên Đán có từ đời Tam Hoàng Ngũ Đế và thay đổi theo từng thời kỳ. Đời Tam Đ ại, nhà Hạ chuộng màu đen nên chọn tháng G iêng, tức tháng Dần. Nhà Thương thích màu trắng nên lấy tháng Sửu, tức tháng C hạp, làm tháng đầu năm. Nhà Chu ưa sắc đỏ nên chọn tháng Tý, tức tháng M ười M ột, làm tháng Tết . Các vua chúa nói trên quan niệm về ngày giờ "tạo thiên lập địa" như sau: giờ Tý thì có trời, giờ Sửu thì có đất, giờ Dần sinh loài người nên đặt ra ngày T ết khác nhau. Đời Đông Chu, Khổng Tử đổi ngày Tết vào một tháng nhất định là tháng Dần. Đời nhà Tần (thế kỷ 3 TCN), Tần Thủy Hoàng lại đổi qua tháng Hợi, tức tháng mười. Đến thời nhà Hán, Hán Vũ Đế (140 TCN) lại đặt ngày Tết vào tháng Dần, tức tháng giêng. Từ đó về sau, không còn triều đại nào thay đổi về tháng Tết nữa. Trước năm 1967, Việt Nam lấy giờ Bắc Kinh làm chuẩn cho âm lịch. Quan niệm ngày Tết Người Việt tin rằng vào ngày Tết mọi thứ đều phải mới, phải đổi khác, từ ngoại vật cho đến lòng người, vì vậy khoảng mươi ngày trước Tết họ thường sơn, quét vôi nhà cửa lại. Họ cũng tất bật đi sắm sửa quần áo mới để mặc trong dịp này. Trong những ngày Tết họ kiêng cữ không nóng giận, cãi cọ. Tết là dịp để mọi người hàn gắn những hiềm khích đã qua và là dịp để chuộc lỗi. Mọi người đi thăm viếng nhau và chúc nhau những lời đầy ý nghĩa. Trẻ em sau khi chúc Tết người lớn còn được lì xì bằng một phong bì màu đỏ có đựng ít tiền dành cho c ác em tiêu xài ngày Tết .

Slide4:

Mâm ngũ quả Mâm ngũ quả là một mâm trái cây có năm thứ trái cây khác nhau thường có trong ngày Tết Nguyên Đán của người Việt. Các loại trái cây bày lên thể hiện nguyện ước của gia chủ qua tên gọi, màu sắc và cách sắp xếp của chúng. Mâm ngũ quả của người miền Bắc gồm: chuối, ớt, bưởi, quất, lê. Có thể thay thế bằng cam, quýt, lê-ki-ma, hồng xiêm, hồng đỏ. Chuối xanh cong lên ôm lấy bưởi mang ý nghĩa đùm bọc. Chọn 5 thứ quả theo quan niệm người xưa là ngũ hành ứng với mệnh của con người. Chọn số lẻ tượng trưng cho sự phát triển, sinh sôi. Mâm ngũ quả người miền Nam gồm dừa, đu đủ, mãng cầu, sung, xoài với ngụ ý “ cầu sung vừa đủ xài ” . Cây nêu Cây nêu là một cây tre cao khoảng 5–6 mét. Ở ngọn thường treo nhiều thứ (tùy theo từng điạ phương) như vàng mã, bùa trừ tà, cành xương rồng, bầu rượu bện bằng rơm, hình cá chép bằng giấy (để táo quân dùng làm phương tiện về trời), giải cờ vải tây, điều (màu đỏ), đôi khi người ta còn cho treo lủng lẳng những chiếc khánh nhỏ bằng đất nung, mỗi khi gió thổi, những khánh đất va chạm nhau tạ o thành những tiếng kêu leng keng nghe rất vui tai. Người ta tin rằng những vật treo ở cây nêu, cộng thêm những tiếng động của những khánh đất, là để báo hiệu cho ma quỷ biết rằng nơi đây là nhà có chủ, không được tới quấy nhiễu... Vào buổi tối, người ta treo một chiếc đèn lồng ở cây nêu để tổ tiên biết đường về nhà ăn Tết với con cháu. Câu đối Tết Để trang hoàng nhà cửa và để thưởng Xuân, trước đây từ các nhà nho học cho tới những người bình dân "tồn cổ" vẫn còn trọng tục treo “ C âu đối đỏ" nhân ngày Tết . Những câu đối này được viết bằng chữ Nho (màu đen hay vàng) trên những tấm giấy đỏ hay hồng đào cho nên còn được gọi là câu đối đỏ.

Slide5:

Hoa Tết Ngoài hai loại hoa đặc trưng cho Tết là Đ ào và M ai, hầu như nhà nào cũng có thêm những loại hoa để thờ cúng và hoa trang trí. Hoa thờ cúng có thể như hoa vạn thọ, cúc, lay ơn, hoa huệ , v . v . H oa để trang trí thì muôn màu sắc như hoa hồng, hoa thủy tiên, hoa lan, hoa thược dược, hoa violet, hoa đồng tiền, v . v . Ngoài ra, hoa hồng, cẩm chướng, loa kèn, huệ tây, lá măng, thạch thảo , cắm kèm sẽ tạo sự phong phú và mang ý nghĩa sum họp cho bình hoa ngày tết. Màu sắc tươi vui chủ đạo của bình hoa cũng ngụ ý cầu mong một năm mới làm ăn phát đạt, gia đình an khang và sung túc. Ngày Tất Niên Có thể là ngày 30 tháng Chạp (nếu là năm đủ) hoặc 29 tháng Chạp (nếu là năm thiếu) được gọi là N gày Tất N iên . Đây là ngày gia đình sum họp lại với nhau để ăn cơm buổi tất niên. Buổi tối ngày này, người ta làm cỗ cúng T ất N iên . Giữa ngày 30 (hoặc 29) tháng Chạp và ngày M ù ng 1 tháng Giêng, giờ Tý (từ 23 giờ hôm trước đến 1 giờ hôm sau), trong đó, thời điểm bắt đầu giờ Chính Tý (0 giờ 0 phút 0 giây ngày Mồng 1 tháng Giêng) là thời khắc quan trọng nhất của dịp Tết, đánh dấu sự chuyển giao năm cũ và năm mới, được gọi là Giao T hừa . Để ghi nhận thời khắc Giao T hừa , người ta th ư ờng làm hai mâm cỗ. Một mâm cúng gia tiên tại bàn thờ ở trong nhà mình và một mâm cúng thiên địa ở khoảng sân trước nhà. Một số cộng đồng lấy con hổ là vật thờ thì gọi là cúng Ông Ba Mươi . Một số cộng đồng khác thì có một phần cỗ dành để cúng chúng sinh, cúng những cô hồn lang thang, không nơi nương tựa.

Slide6:

Định Phúc Táo Quân (定福灶君) Táo Quân trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam có nguồn gốc từ ba vị thần Thổ Công , Thổ Địa , Thổ Kỳ của Lão giáo Trung Quốc nhưng được Việt hóa thành huyền tích "2 ông 1 bà" - vị Thần Đất , vị Thần Nhà , vị Thần Bếp . Tuy vậy người người vẫn quen gọi chung là Táo Quân hoặc Ông Táo do kết quả của thuyết tam vị nhất thể (thuyết Ba Ngôi) khá phổ biến trong các tín ngưỡng, tôn giáo. Bếp là bản nguyên của nhà khi người nguyên thủy có lửa và đều dựa trên nền móng là đất. Ở Việt Nam, sự tích Táo Quân được truyền khẩu, rồi ghi chép, do đó có những sự khác nhau về tình tiết, nội dung chính được tóm tắt như sau: “Trọng Cao có vợ là Thị Nhi ăn ở với nhau đã lâu mà không con, nên sinh ra buồn phiền, hay cãi cọ nhau. Một hôm, Trọng Cao giận quá, đánh vợ. Thị Nhi bỏ nhà ra đi sau đó gặp và bằng lòng làm vợ Phạm Lang. Khi Trọng Cao hết giận vợ, nghĩ lại mình cũng có lỗi nên đi tìm vợ. Khi đi tìm vì tiền bạc đem theo đều tiêu hết nên Trọng Cao đành phải đi ăn xin. Khi Trọng Cao đến ăn xin nhà Thị Nhi, thì hai bên nhận ra nhau. Thị Nhi rước Trọng Cao vào nhà, hai người kể chuyện và Thị Nhi tỏ lòng ân hận vì đã trót lấy Phạm Lang làm chồng. Phạm Lang trở về nhà, sợ chồng bắt gặp Trọng Cao nơi đây thì khó giải thích, nên Thị Nhi bảo Trọng Cao ẩn trong đống rơm ngoài vườn.

Slide7:

Phạm Lang về nhà liền ra đốt đống rơm để lấy tro bón ruộng. Trọng Cao không dám chui ra nên bị chết thiêu. Thị Nhi trong nhà chạy ra thấy Trọng Cao đã chết bởi sự sắp đặt của mình nên nhào vào đống rơm đang cháy để chết theo. Phạm Lang gặp tình cảnh quá bất ngờ, thấy vợ chết không biết tính sao, liền nhảy vào đống rơm đang cháy để chết theo vợ”. Linh hồn của ba vị được đưa lên Thượng Đế. Thượng Đế thấy ba người đều có nghĩa, nên sắc phong cho làm Táo Quân , gọi chung là: Định Phúc Táo Quân (定福灶君), nhưng mỗi người giữ một việc: Phạm Lang làm Thổ Công , trông coi việc bếp. Danh hiệu: Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân Trọng Cao làm Thổ Địa , trông coi việc nhà cửa. Danh hiệu: Thổ Địa Long Mạch Tôn Thần Thị Nhi làm Thổ Kỳ , trông coi việc chợ búa. Danh hiệu: Ngũ Phương Ngũ Thổ Phúc Đức Chánh Thần Người Việt quan niệm ba vị Thần Táo định đoạt phước đức cho gia đình, phước đức này do việc làm đúng đạo lý của gia chủ và những người trong nhà. Bàn thờ thường đặt gần bếp, trên có bài vị thờ viết bằng chữ Hán. Hàng năm, đúng vào ngày 23 tháng Chạp là ngày Táo Công lên chầu trời nên có nơi gọi ngày này là "Tết ông Công" , lễ cúng có cá chép vì người Việt cho rằng, ông Táo cưỡi cá chép lên trời.

Slide8:

Lễ đưa Định Phúc Táo Quân về Trời

Slide9:

Cây Nêu Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ Nêu cao pháo nổ bánh chưng xanh

Slide10:

Câu đối đỏ

Slide11:

Mâm ngũ quả - Bàn thờ gia tiên

Slide12:

Mừng tuổi – Lì xì

Slide13:

CUNG kính mời nhau chén rượu nồng

Slide14:

CHÚC mừng năm đến, tiễn năm xong

Slide15:

TÂN niên phúc lộc khơi vừa dạ

Slide16:

XUÂN mới tài danh khởi thỏa lòng

Slide17:

VẠN chuyện lo toan thay đổi hết

Slide18:

SỰ gì bế tắc thảy hanh thông

Slide19:

NHƯ anh, như chị, bằng bè bạn

Slide20:

Ý nguyện trọn đời đẹp ước mong

Slide21:

CUNG CHÚC TÂN XUÂN VẠN SỰ NHƯ Ý!!!

Slide22:

Cung Chúc Tân Xuân Trần Lê Túy Phượng Slideshow này được chia sẻ rộng rãi đến các bạn . Nếu sử dụng , xin ghi rõ nguồn và không sửa đổi nội dung. Chân thành cảm ơn . This slideshow is shared widely to you. If you use it, please provide the original source and please keep the content in tact. Many thanks.

authorStream Live Help