Tết Nguyên Đán_Sự Tích_Thơ Xuân_BMH_TLTP

Views:
 
Category: Entertainment
     
 

Presentation Description

No description available.

Comments

Presentation Transcript

Slide1:

Nguồn : Internet Nhạc : Xuân Hòa Bình Ca sĩ : Thái Thanh Thực hiện PPS: Trần Lê Túy-Phượng Click chuột

Slide2:

Tết Nguyên Đ án (hay còn gọi là Tết Cả , Tết Ta , Tết Âm L ịch , Tết Cổ T ruyền , N ăm M ới hay chỉ đơn giản Tết ) là dịp lễ quan trọng nhất trong văn hóa của người Việt Nam và một số các dân tộc chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc khác. Chữ "Tết" do chữ "Tiết" ( 節 ) mà thành. Hai chữ "Nguyên Đ án" ( 元旦 ) có gốc chữ Hán; “ N guyên" có nghĩa là sự khởi đầu hay sơ khai và “ Đ án" là buổi sáng sớm. Cho nên đọc đúng phiên âm phải là "Tiết Nguyên Đán” , Tân N iên ( 新年 ) hoặc Nông L ịch T ân N iên ( 農曆新年 ). Vì Trung Quốc và một số nước chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc dùng lịch pháp theo chu kỳ vận hành của mặt trăng nên Tết Nguyên Đán muộn hơn Tết Dương L ịch (còn gọi nôm na là Tết Tây). Do quy luật 3 năm nhuận một tháng của Âm lịch nên ngày đầu năm của dịp Tết Nguyên Đ án không bao giờ trước ngày 21 tháng 1 Dương lịch và sau ngày 19 tháng 2 Dương lịch mà thường rơi vào khoảng cuối tháng 1 đến giữa tháng 2 Dương lịch. Toàn bộ dịp Tết Nguyên đán hàng năm thường kéo dài trong khoảng 7 đến 8 ngày cuối năm cũ và 7 ngày đầu năm mới (23 tháng Chạp đến hết ngày 7 tháng Giêng). Từ “N guyên ” Nguyên nghĩa của Tết chính là “ T iết" . Văn hóa Đông Á – thuộc văn minh nông nghiệp lúa nước – do nhu cầu canh tác nông nghiệp đã "phân chia" thời gian trong một năm thành 24 t iết khác nhau (và ứng với mỗi t iết này có một thời khắc "giao thời") trong đó tiết quan trọng nhất là tiết khởi đầu của một chu kỳ canh tác, gieo trồng, tức là Tiết Nguyên Đán sau này được biết đến là Tết Nguyên Đán .

Slide3:

Nguồn gốc ra đời Theo lịch sử Trung Quốc, nguồn gốc Tết Nguyên Đán có từ đời Tam Hoàng Ngũ Đế và thay đổi theo từng thời kỳ. Đời Tam Đ ại , nhà Hạ chuộng màu đen nên chọn tháng G iêng, tức tháng Dần. Nhà Thương thích màu trắng nên lấy tháng Sửu, tức tháng C hạp, làm tháng đầu năm. Nhà Chu ưa sắc đỏ nên chọn tháng Tý, tức tháng M ười M ột, làm tháng Tết . Các vua chúa nói trên quan niệm về ngày giờ "tạo thiên lập địa" như sau: giờ Tý thì có trời, giờ Sửu thì có đất, giờ Dần sinh loài người nên đặt ra ngày T ết khác nhau. Đời Đông Chu , Khổng Tử đổi ngày Tết vào một tháng nhất định là tháng Dần. Đời nhà Tần (thế kỷ 3 TCN), Tần Thủy Hoàng lại đổi qua tháng Hợi, tức tháng mười. Đến thời nhà Hán , Hán Vũ Đế (140 TCN) lại đặt ngày Tết vào tháng Dần, tức tháng giêng. Từ đó về sau, không còn triều đại nào thay đổi về tháng Tết nữa. Trước năm 1967 , Việt Nam lấy giờ Bắc Kinh làm chuẩn cho âm lịch. Quan niệm ngày Tết Người Việt tin rằng vào ngày Tết mọi thứ đều phải mới, phải đổi khác, từ ngoại vật cho đến lòng người, vì vậy khoảng mươi ngày trước Tết họ thường sơn, quét vôi nhà cửa lại. Họ cũng tất bật đi sắm sửa quần áo mới để mặc trong dịp này. Trong những ngày Tết họ kiêng cữ không nóng giận, cãi cọ. Tết là dịp để mọi người hàn gắn những hiềm khích đã qua và là dịp để chuộc lỗi. Mọi người đi thăm viếng nhau và chúc nhau những lời đầy ý nghĩa. Trẻ em sau khi chúc Tết người lớn còn được lì xì bằng một phong bì đỏ thắm có đựng ít tiền dành cho c ác em tiêu xài ngày Tết .

Slide4:

Mâm ngũ quả Mâm ngũ quả là một mâm trái cây có năm thứ trái cây khác nhau thường có trong ngày Tết Nguyên Đán của người Việt. Các loại trái cây bày lên thể hiện nguyện ước của gia chủ qua tên gọi, màu sắc và cách sắp xếp của chúng. Mâm ngũ quả của người miền Bắc gồm: chuối, ớt, bưởi, quất, lê. Có thể thay thế bằng cam, quýt, lê-ki-ma, hồng xiêm, hồng đỏ. Chuối xanh cong lên ôm lấy bưởi mang ý nghĩa đùm bọc. Chọn 5 thứ quả theo quan niệm người xưa là ngũ hành ứng với mệnh của con người. Chọn số lẻ tượng trưng cho sự phát triển, sinh sôi. Mâm ngũ quả người miền Nam gồm dừa, đu đủ, mãng cầu, sung, xoài với ngụ ý “ cầu sung vừa đủ xài ” . Cây nêu Cây nêu là một cây tre cao khoảng 5–6 mét. Ở ngọn thường treo nhiều thứ (tùy theo từng điạ phương) như vàng mã, bùa trừ tà, cành xương rồng, bầu rượu bện bằng rơm, hình cá chép bằng giấy (để táo quân dùng làm phương tiện về trời), giải cờ vải tây, điều (màu đỏ), đôi khi người ta còn cho treo lủng lẳng những chiếc khánh nhỏ bằng đất nung, mỗi khi gió thổi, những khánh đất va chạm nhau tạ o thành những tiếng kêu leng keng nghe rất vui tai. Người ta tin rằng những vật treo ở cây nêu, cộng thêm những tiếng động của những khánh đất, là để báo hiệu cho ma quỷ biết rằng nơi đây là nhà có chủ, không được tới quấy nhiễu... Vào buổi tối, người ta treo một chiếc đèn lồng ở cây nêu để tổ tiên biết đường về nhà ăn Tết với con cháu. Câu đối Tết Để trang hoàng nhà cửa và để thưởng Xuân, trước đây từ các nhà nho học cho tới những người bình dân "tồn cổ" vẫn còn trọng tục treo “ C âu đối đỏ" nhân ngày Tết . Những câu đối này được viết bằng chữ Nho (màu đen hay vàng) trên những tấm giấy đỏ hay hồng đào cho nên còn được gọi là câu đối đỏ.

Slide5:

Hoa Tết Ngoài hai loại hoa đặc trưng cho Tết là Đ ào và M ai, hầu như nhà nào cũng có thêm những loại hoa để thờ cúng và hoa trang trí. Hoa thờ cúng có thể như hoa vạn thọ, cúc, lay ơn, hoa huệ , v . v . H oa để trang trí thì muôn màu sắc như hoa hồng, hoa thủy tiên, hoa lan, hoa thược dược, hoa violet, hoa đồng tiền, v . v . Ngoài ra, hoa hồng, cẩm chướng, loa kèn, huệ tây, lá măng, thạch thảo , cắm kèm sẽ tạo sự phong phú và mang ý nghĩa sum họp cho bình hoa ngày tết. Màu sắc tươi vui chủ đạo của bình hoa cũng ngụ ý cầu mong một năm mới làm ăn phát đạt, gia đình an khang và sung túc. Ngày Tất Niên Có thể là ngày 30 tháng Chạp (nếu là năm đủ) hoặc 29 tháng Chạp (nếu là năm thiếu) được gọi là ngày Tất N iên . Đây là ngày gia đình sum họp lại với nhau để ăn cơm buổi tất niên. Buổi tối ngày này, người ta làm cỗ cúng T ất N iên . Giữa ngày 30 (hoặc 29) tháng Chạp và ngày M ù ng 1 tháng Giêng, giờ Tý (từ 23 giờ hôm trước đến 1 giờ hôm sau), trong đó, thời điểm bắt đầu giờ Chính Tý (0 giờ 0 phút 0 giây ngày Mồng 1 tháng Giêng) là thời khắc quan trọng nhất của dịp Tết, đánh dấu sự chuyển giao năm cũ và năm mới, được gọi là Giao T hừa . Để ghi nhận thời khắc này, người ta th ư ờng làm hai mâm cỗ. Một mâm cúng gia tiên tại bàn thờ ở trong nhà mình và một mâm cúng thiên địa ở khoảng sân trước nhà. Một số cộng đồng lấy con hổ là vật thờ thì gọi là cúng Ông Ba Mươi . Một số cộng đồng khác thì có một phần cỗ dành để cúng chúng sinh, cúng những cô hồn lang thang, không nơi nương tựa.

Slide6:

Định Phúc Táo Quân (定福灶君) Táo Quân trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam có nguồn gốc từ ba vị thần Thổ Công , Thổ Địa , Thổ Kỳ của Lão giáo Trung Quốc nhưng được Việt hóa thành huyền tích "2 ông 1 bà" - vị Thần Đất , vị Thần Nhà , vị Thần Bếp . Tuy vậy người người vẫn quen gọi chung là Táo Quân hoặc Ông Táo do kết quả của thuyết tam vị nhất thể (thuyết Ba Ngôi) khá phổ biến trong các tín ngưỡng, tôn giáo. Bếp là bản nguyên của nhà khi người nguyên thủy có lửa và đều dựa trên nền móng là đất. Ở Việt Nam, sự tích Táo Quân được truyền khẩu, rồi ghi chép, do đó có những sự khác nhau về tình tiết, nội dung chính được tóm tắt như sau: Trọng Cao có vợ là Thị Nhi ăn ở với nhau đã lâu mà không con, nên sinh ra buồn phiền, hay cãi cọ nhau. Một hôm, Trọng Cao giận quá, đánh vợ. Thị Nhi bỏ nhà ra đi sau đó gặp và bằng lòng làm vợ Phạm Lang. Khi Trọng Cao hết giận vợ, nghĩ lại mình cũng có lỗi nên đi tìm vợ. Khi đi tìm vì tiền bạc đem theo đều tiêu hết nên Trọng Cao đành phải đi ăn xin. Khi Trọng Cao đến ăn xin nhà Thị Nhi, thì hai bên nhận ra nhau. Thị Nhi rước Trọng Cao vào nhà, hai người kể chuyện và Thị Nhi tỏ lòng ân hận vì đã trót lấy Phạm Lang làm chồng. Phạm Lang trở về nhà, sợ chồng bắt gặp Trọng Cao nơi đây thì khó giải thích, nên Thị Nhi bảo Trọng Cao ẩn trong đống rơm ngoài vườn. Phạm Lang về nhà liền ra đốt đống rơm để lấy tro bón ruộng. Trọng Cao không dám chui ra nên bị chết thiêu. Thị Nhi trong nhà chạy ra thấy Trọng Cao đã chết bởi sự sắp đặt của mình nên nhào vào đống rơm đang cháy để chết theo. Phạm Lang gặp tình cảnh quá bất ngờ, thấy vợ chết không biết tính sao, liền nhảy vào đống rơm đang cháy để chết theo vợ. Linh hồn của ba vị được đưa lên Thượng Đế. Thượng Đế thấy ba người đều có nghĩa, nên sắc phong cho làm Táo Quân , gọi chung là: Định Phúc Táo Quân (定福灶君), nhưng mỗi người giữ một việc: Phạm Lang làm Thổ Công , trông coi việc bếp. Danh hiệu: Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân Trọng Cao làm Thổ Địa , trông coi việc nhà cửa. Danh hiệu: Thổ Địa Long Mạch Tôn Thần Thị Nhi làm Thổ Kỳ , trông coi việc chợ búa. Danh hiệu: Ngũ Phương Ngũ Thổ Phúc Đức Chánh Thần Người Việt quan niệm ba vị Thần Táo định đoạt phước đức cho gia đình, phước đức này do việc làm đúng đạo lý của gia chủ và những người trong nhà. Bàn thờ thường đặt gần bếp, trên có bài vị thờ viết bằng chữ Hán. Hàng năm, đúng vào ngày 23 tháng Chạp là ngày Táo Công lên chầu trời nên có nơi gọi ngày này là "Tết ông Công" , lễ cúng có cá chép vì người Việt cho rằng, ông Táo cưỡi cá chép lên trời.

Slide7:

Lễ đưa Táo Công về Trời

Slide8:

Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ Nêu cao pháo nổ bánh chưng xanh

Slide9:

Ông Đồ Già Mỗi năm hoa đào nở Lại thấy ông Đồ già Bày mực tàu giấy đỏ Trên phố đông người qua   Bao nhiêu người thuê viết Tấm tắc khen ngợi tài Hoa tay thảo những nét Như phượng múa rồng bay   Nhưng mỗi năm mỗi vắng Người thuê viết nay đâu Giấy đỏ buồn không thắm Mực đọng trong nghiên sầu   Ông Đồ vẫn ngồi đó Qua đường không ai hay Lá vàng rơi trên giấy Ngoài trời mưa bụi bay   Năm nay đào lại nở Không thấy ông Đồ xưa Những người muôn năm cũ Hồn ở đâu bây giờ Vũ Đình Liên

Slide10:

Câu đối đỏ

Slide12:

Mâm ngũ quả - Bàn thờ gia tiên

Slide13:

Bánh tét chuối Bánh dày ( Bánh tổ ) Bánh chưng / Bánh tét Mứt trái cây Các loại bánh mứt truyền thống trong ngày Tết

Slide14:

Thịt kho tàu Khổ qua hầm Dưa cải chua Cà ri gà Dưa giá Các món ăn truyền thống trong ngày Tết

Slide15:

Chợ hoa Nguyễn Huệ

Slide16:

Chợ hoa Nguyễn Huệ

Slide17:

Chợ hoa Nguyễn Huệ

Slide18:

Chợ hoa Nguyễn Huệ

Slide19:

  Buổi sớm mùa X uân Ngủ dậy tung song cửa  Nào hay X uân đã sang  Một đôi bươm bướm trắng  Gặp hoa, cánh vội vàng. Vua Trần Nhân Tông (1278-1320)

Slide20:

Trên hồ Động Thiên   Cảnh hồ Động Thiên nọ,  Hoa cỏ giảm mầu xuân  Thượng đế thương hiu quạnh  Tầng xanh chuông bỗng ngân       Vua Trần Nhân Tông (1278-1320) Bản dịch Trần Lê Văn

Slide21:

Đề chùa Cổ Châu   Số đời thật mờ mịt  Mắt giấu tình bên trong.  Cai quản cung ma chặt  Đất Phật xuân thong dong Vua Trần Nhân Tông (1278-1320)

Slide22:

Xuân cảnh     Dương liễu hoa xuân điểu ngữ trì  Họa đường thiềm ảnh mộ vân phi  Khách lai bất vấn nhân gian sự,  Cộng ỷ lan can khán thúy vi !    Cảnh xuân   Khoan nhặt chim kêu hoa liễu dầy  Họa đường thềm dãi bóng mây bay  Chuyện đời khách đến không hề hỏi  Cùng tựa lan can ngắm cảnh ngoài ! Vua Trần Nhân Tông (1278-1320)

Slide23:

Xuân nhật yết Chiêu lăng     Tì hổ thiên môn túc  Y quan thất phẩm thông  Bạch đầu quân sĩ tại  Vãng vãng thuyết Nguyên Phon    Ngày xuân thăm Chiêu lăng   Nghiêm trang nghìn cửa quân hùm,  Trăm quan bảy phẩm một vùng cân đai.  Bạc đầu, chàng lính nhắc hoài,  Chuyện Nguyên Phong cũ những ngày ruổi rong Vua Trần Nhân Tông (1278-1320)

Slide24:

Thân như điện ảnh hữu ho à n vô Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô Nhậm vận thạnh suy vô bố ú y Thạnh suy như lộ thảo đầu phô. Vạn Hạnh thiền sư (? - 1025) Thân như sấm chớp, c ó rồi không Cây cối xuân tươi, thu h é o hon Nh ì n cuộc thịnh suy, đừng sợ hãi Thịnh suy ngọn cỏ giọt sương hồng. Bản dịch Nguyễn Lang

Slide25:

Hoa Bướm Xuân sang hoa bướm khéo quen thì Bướm liệng hoa cười vẫn đúng kỳ Nên biết bướm hoa đều huyễn ảo Thấy hoa mặc bướm để lòng chi (Thiền viện Thường Chiếu) Hoa Điệp Xuân lai hoa điệp thiện tri thì Hoa điệp ưng tu cộng ứng kỳ Hoa điệp bản lai giai thị uyển Mạc tu hoa điệp hướng tâm tri (Giác Hải thiền sư -1072-1127)

Slide26:

Xuân khứ bách hoa lạc Xuân đáo bách hoa khai Sự trục nhãn tiền quá Lão tòng đầu thượng lai Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận Đình tiền tạc dạ nhất chi mai. Mãn Giác thiền sư (1052-1096) Xuân đi trăm hoa rụng Xuân đến trăm hoa nở Trước mắt sự việc đi qua, Tuổi già theo mái đầu lại. Đừng bảo rằng xuân tàn thì hoa rụng hết Trước sân khắc vào đêm, nở một nhành mai. Trăm hoa rụng lúc xuân tàn Xuân về lại nở rỡ ràng trăm hoa Việc đời trước mắt đi qua Lần trên mái tóc hiện ra nếp già. Đừng lầm xuân mãn hết hoa Trước sân mai nở đêm qua một cành. Bản dịch Đinh Đức Dược

Slide27:

Xuân nhật tức sự Lỏng tay thêu gấm gái yêu kiều, Hoa rợp, oanh vàng lảnh lót kêu. Bao nỗi thương xuân, thương biết mấy, Là khi không nói chợt dừng thêu. Thiền sư Huyền Quang (1251-1334)

Slide28:

Cầm đuốc chơi đêm Tiếc xuân cầm đuốc mảng chơi đêm, Những lệ (sợ) xuân qua tuổi tác thêm... Cầm đuốc chơi đêm này khách nói, Tiếng chuông chưa gióng ắt còn xuân. Nguyễn Trãi (1380-1442)

Slide29:

Bến đò xuân đầu trại Cỏ xuân đầu bến xanh như khói, Thêm nữa mưa xuân nước vỗ trời. Đồng nội vắng teo hành khách ít, Thuyền kề bãi cát trọn ngày ngơi.      Nguyễn Trãi (1380-1442) B ản dịch Phan Võ

Slide30:

Đêm Xuân Đêm đen nào thấy ánh dương trong, Hàng liễu âm thầm đứng trước song. Ốm liệt giang hồ bao tháng trải, Xuân về mưa gió suốt đêm ròng. Lâu năm đất khách đèn chong lệ, Ngàn dặm quê hương nguyệt dãi lòng. Ngoài xóm Nam Đoài Long Thủy chảy, Trôi hoài kim cổ một dòng không.   Nguyễn Du ( 1766-1820) Bản dịch Nguyễn Xuân Tảo

Slide31:

 Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại, Mảnh tình san sẻ tí con con Hồ Xuân Hương (1772–1822)

Slide32:

Đêm xuân đọc sách Khách nay chẳng thấy xuân xưa nữa, Thổn thức xuân nay gặp khách xưa. Nay hóa thành xưa nào mấy chốc, Hư nhìn ra thực khỏi lầm chưa? Bao phường danh lợi cơn mưa sáng, Mấy bậc anh hùng đám bụi mờ. Tục lụy cười mình chưa dứt được, Gần đây sách vở quá say sưa.   Cao Bá Quát (1808-1855) Bản dịch Nguyễn Văn Tú

Slide33:

Chợ Đồng Tháng Chạp hai mươi bốn chợ Đồng, Năm nay chợ họp có đông không? Trở trời mưa bụi còn hơi rét, Nếm rượu tường đền được mấy ông? Hàng quán người về nghe xáo xác, Nợ nần năm hết hỏi lung tung. Năm ba ngày nữa tin xuân đến, Pháo trúc nhà ai một tiếng đùng.   Nguyễn Khuyến (1835-1909) (s ưu tầm bài của Nguyễn Huệ Chi)

Slide34:

Xuân về ( Nguyễn Bính )   Ðã thấy xuân về với gió đông Với trên màu má gái chưa chồng Bên hiên hàng xóm, cô hàng xóm Ngước mắt nhìn trời đôi mắt trong. Từng đàn con trẻ chạy xun xoe Mưa tạnh, trời quang, nắng mới hoe Lá nõn, nhành non ai tráng bạc Gió về từng trận gió bay đi Thong thả nhân gian nghỉ việc đồng Lúa thì con gái mượt như nhung Ðầy vườn hoa bưởi hoa cau rụng Ngào ngạt hương bay bướm vẽ vòng Trên đường cát mịn một đôi cô Yếm đỏ, khăn thâm, trảy hội chùa Gậy trúc dắt bà già tóc bạc Tay lần tràng hạt, niệm na mô.

Slide35:

Nụ cười xuân ( Xuân Diệu )   Giữa vườn ánh ỏi tiếng chim vui, Thiếu nữ nhìn sương chói mặt trời. Sao buổi đầu xuân êm ái thế! Cánh hồng kết những nụ cười tươi.   Ánh sáng ôm trùm những ngọn cao, Cây vàng rung nắng, lá xôn xao; Gió thơm phơ phất bay vô ý Đem dựng cành mai sát nhành đào.   Tóc liễu buông xanh quá mỹ miều Bên màu hoa mới thắm như kêu; Nỗi gì âu yếm qua không khí, Như thoảng đưa mùi hương mến yêu.   Này lượt đầu tiên thiếu nữ nghe Nhạc thầm lên tiếng hát say mê; Múa xuân chín ửng trên đôi má Xui khiến lòng ai thấy nặng nề...   Thiều nữ bâng khuâng đợi một người Chưa từng hẹn đến - giữa xuân tươi Cùng chàng trai trẻ xa xôi ấy Thiếu n ữ làm duyên, đứng mỉm cười.

Slide36:

Xuân đầu tiên ( Hàn Mặc Tử )   Mai sáng mai ,trời cao rộng quá Gió căng hơi và nhạc lên mây, Đôi lòng cũng ấm như xuân ấm, Chỉ có ao xuân trắng trẻo thay !   Mai này thiên địa mới tin khôi, Gió căng hơi và nhạc lên trời. Chim khuyên hót tiếng đầu tiên hết, Hoa lá hồ nghi sự lạ đời.   Trái cây bằng vỏ bằng gấm, Còn mặt trời kia tợ khối vàng. Có người trai mới in như nguyệt, Gió căng hơi và nhạc lên ngàn.   Thuở ấy càn khôn mới dựng nên, Mùa khô chưa gặp tốt tươi lên. Người thơ phong vận như thơ ấy, Nào đã ra đời ngọc biết tên.   Xuân gấm đầu tiên giữa cõi đời, Mùi thơm ngây dại sóng con người. Hãy hoan hô, lời cao như sấm, -Vạn tuế, bay ơi ! Nắng rợp trời !

Slide37:

Mùa xuân Mậu Tuất 1958 ( Đông Hồ )   Tóc đen mắt  nhánh mực nhung huyền Mặt trắng lòng thơm giấy phấm tiên Phận mỏng chẳng vương theo cánh gió Nghĩa dòng khảo kết chặt tơ duyên Soi nhờ ánh tuyết nền thành lạnh. Giấu kín doanh sơn nếp thánh hiền Điệp tháng bốn phương mùa náo nức Lần thơ xuân hóa bóng thuyền quyên

Slide38:

Thơ say 1940 ( Vũ Hoàng Chương )  Thuy ề n nhỏ sông lam yểu điệu về Cỏ chen màu liễu biếc chân đê Tình Xuân ai chở đầy khoang ấy Hương sắc thanh bình ngập lối quê. Nắng nhẹ mây hờ sương hơi hơi Sư ơng thưa nắng mỏng nhạc khoan lời Dây đàn chầm chậm hôn lên phím Muôn vạn cung Hồ lả lướt rơi

Slide39:

T háng giêng nguyệt quế ( Hồ Thi Ca )   Tháng giêng nguyệt quế trở về Thơm hoa, thơm nụ, thơm mê mẩn người Hương em đọng trắng nụ cười Đêm giêng hai ngát khoảng trời lặng thinh   Tôi kề em đến vô hình Em khai hoa để tội tình cho ai Tháng giêng mưa nhớ mười hai Giọt sương nguyệt quế trên vai thơm đầy   Tôi già bên gốc thơ ngây Tháng giêng nguyệt quế trắng bay ngang đầu...

Slide40:

Ước vọng mùa xuân ( Hoàng Cầm ) Khí tượng đầy tin nắng đẹp tươi Bụi mưa nhàn nhã thả chim trời Mong em ấm lạnh vừa phong độ Anh cứ tầm xuân lấm tấm vui.

Slide41:

Ý Xuân (Nguyên Vũ-Đinh Đức Dược)   Xuân đậu chồi non đón gió êm Xuân hanh óng ả sợi tơ mềm Xuân khoe hoa thắm thêu màu mới Xuân rải sao ngàn dệt ánh đêm Xuân sắc huy hoàng hồn trẻ lại Xuân tình rạo rực ý nồng thêm Xuân đem nhựa sống vào muôn nẻo Xuân mãi chờ ta – đứng tựa thềm.

Slide42:

Chớm Xuâ n (Nguyên Vũ-Đinh Đức Dược)   Mây mưa vén bức đi rồi Trời trong, nắng ấm, núi đồi xanh xa Chim chuyền ướm thử giọng ca Trên cành nụ biết hé ra...đợi ngày.

Slide43:

Nắng Xuân chiếu rạng khắp gần xa Hương Xuân lan toả mọi nếp nhà Hoa Xuân rạng rỡ đùa trong gió Lời Xuân trên môi thơm ngân nga … Trà thơm, mứt ngọt, ly rượu nóng Đào thắm, mai vàng, dáng kiêu sa Có bạn bên ta, đời quá đẹp Cả thế gian cùng say hoan ca. Phạm Kiêm Yến

Slide44:

KÍN DẤU MÙA XUÂN ( Nguyễn Tấn Ái ) Ta đã đi trong chiều xuân Nghe lá vàng còn rơi theo nhịp bước Dáng người thuở trước Có vương vương bao chiếc lá vàng  ? Con ngõ này , Một ngày xuân mà bao lần tôi sang Lá cứ đổ trong mỗi chiều xuân thắm Lòng buồn lăm lắm Sầu vương trên mắt hoen mờ Con ngõ này Ngày xưa tuổi thơ Tôi cũng đã âm thầm đếm từng nhịp bước Dáng người tha thướt Gót người vỗ về hồn tôi . Một chút âm thầm muốn nói lại thôi Tình im lìm lịm dần theo ngày tháng Hôm nay xuân về Không biết chiều hay sáng Chỉ biết hồn tôi mờ vì dáng hình em Những buổi chiều đi qua rất êm Mây tím rủ nhau tìm về cổ độ Chiều xuân này gió lay tà áo Em  ! Hồn ai chao nghiêng . Chiều xuân này có dáng hình em Chiều xuân này tôi lỡ gọi tên Chiều xuân này lá rơi nhiều quá Chiều xuân này hẳn tôi không quên Hồn biết buồn theo con đường dài Chiều xuân này lỡ làm thi sĩ Để nghe buồn về nặng trên vai . Chiều xuân này có dáng hình ai.

Slide45:

TÌNH XUÂN (Minh Tâm ) Hoa xuân khoe trong nắng Gió xuân đùa trong mây Tình xuân nghiêng lá nhỏ Mộng xuân ấm đong đầy Chào xuân ngày nắng mới Giọt sương nhẹ nhành cây Khẽ rơi mềm thảm cỏ Nét rạng ngời tinh khôi Đón xuân mây nhẹ trôi Tơ trời vương nốt nhạc Tình người hòa vần thơ Mở hồng trang giấy thắm Vui xuân ngày đầm ấm Nhẹ ôm tròn bờ vai Hong xanh làn tóc nhỏ Một góc trời bình yên Mừ n g xuân lá che nghiêng Nụ hoa e ấp nép Cánh hoa khẽ lay mềm Nồng nàn hương đầm thấm Tình xuân thêu nhung gấm Nắng xuân dệt lụa là Trời xuân giăng sợi tơ Ngày xuân ươm mộng mơ

Slide46:

XUÂN HÁT (Đàm Lan) Đây chồi biếc cho ngày thêm mới Đây hoa xinh cho tháng thêm đầy Đây môi cười cho nắng thêm say Và xuân tới thêm sum vầy hương sắc Mùng một nhé lì xì lời thương mến Mùng hai này mừng tuổi tiếng yêu nhau Mùng ba ơi son sắt chút tình sâu Cả năm sáng nhiệm màu câu phúc hạnh

Slide47:

Rồi qua tháng chạp anh ơi Đường đông Tết đến nơi rồi, thời gian Tết này anh có về làng Quê mình cùng với gia đình vui xuân? Nguyễn Đình Xuân

Slide48:

XUÂN  BAN MAI HỒNG ( Hồng Phúc ) Tiễn biệt đông hàn mừng đón xuân Muôn hoa ướm nụ khắp non ngàn Ban mai hồng thắm bừng tia nắng Thắp sáng tin yêu vạn nẻo đàng . Góp nhặt yêu thương gửi tặng người Vần thơ, tiếng nhạc đón xuân tươi Tân niên đầm ấm tình nhân thế Đoàn kết chung xây đắp cuộc đời .                        

Slide49:

XUÂN Xuân trải hoa thơm khắp xóm làng Nắng vàng tươi thắm mạ non xanh Gió nh ẹ , mây trôi, chim ríu rít Nô nức áo quần đón xuân sang. Quân Jun

Slide53:

Xuân tươi rộn rã gọi mời An lạc, Xuân thắm đất trời hoan ca Hoà bình, Xuân mới muôn nhà Tình Xuân chồi biếc, lòng ta dạt dào Như ý, Xuân nguyện ngọt ngào Trẻ già Xuân vẫn yêu sao cuộc đời! Thơ Xuân chỉ có mấy lời, Ban Mai Hồng chúc người người Tân Xuân. Huỳnh Huệ

Slide54:

Chúc Mừng Năm Mới Trần Lê Túy-Phượng Special thanks to all talented artists whose great works appear in this presentation

authorStream Live Help