Tết_Tết Nguyên ĐánBT_Thơ Xuân_TLTP TĐH

Views:
 
Category: Education
     
 

Presentation Description

Tết Nguyên Đán - Thơ Xuân.

Comments

Presentation Transcript

Slide1:

Tết Nguyên Đán PPS: Trần Lê Túy-Phượng Bấm Chuột

Slide2:

Tết Nguyên Đ án (hay còn gọi là Tết Cả , Tết Ta , Tết Âm L ịch , Tết Cổ T ruyền , N ăm M ới hay chỉ đơn giản Tết ) là dịp lễ quan trọng nhất trong văn hóa của người Việt Nam và một số các dân tộc chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa khác. Chữ "Tết" do chữ "Tiết" ( 節 ) mà thành. Hai chữ "Nguyên Đ án" ( 元旦 ) có gốc chữ Hán; “ N guyên" có nghĩa là sự khởi đầu hay sơ khai và “ Đ án" là buổi sáng sớm. Cho nên đọc đúng phiên âm phải là "Tiết Nguyên Đán” , Tân N iên ( 新年 ) hoặc Nông L ịch T ân N iên ( 農曆新年 ) . Vì Trung Hoa và một số nước chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa dùng lịch pháp theo chu kỳ vận hành của mặt trăng nên Tết Nguyên Đán muộn hơn Tết Dương L ịch (còn gọi nôm na là Tết Tây). Do quy luật 3 năm nhuận một tháng của Âm lịch nên ngày đầu năm của dịp Tết Nguyên Đ án không bao giờ trước ngày 21 tháng 1 Dương lịch và sau ngày 19 tháng 2 Dương lịch mà thường rơi vào khoảng cuối tháng 1 đến giữa tháng 2 Dương lịch. Toàn bộ dịp Tết Nguyên Đ án hàng năm thường kéo dài trong khoảng 7 đến 8 ngày cuối năm cũ và 7 ngày đầu năm mới (23 tháng Chạp đến hết ngày 7 tháng Giêng). Từ “N guyên ” : Nguyên nghĩa của Tết chính là “ T iết ” . Văn hóa Đông Á – thuộc văn minh nông nghiệp lúa nước – do nhu cầu canh tác nông nghiệp đã "phân chia" thời gian trong một năm thành 24 t iết khác nhau (và ứng với mỗi t iết này có một thời khắc "giao thời") trong đó tiết quan trọng nhất là tiết khởi đầu của một chu kỳ canh tác, gieo trồng, tức là Tiết Nguyên Đán sau này được biết đến là Tết Nguyên Đán .

Slide3:

Nguồn gốc ra đời Theo lịch sử Trung Hoa , nguồn gốc Tết Nguyên Đán có từ đời Tam Hoàng Ngũ Đế và thay đổi theo từng thời kỳ. Đời Tam Đ ại, nhà Hạ chuộng màu đen nên chọn tháng G iêng, tức tháng Dần. Nhà Thương thích màu trắng nên lấy tháng Sửu, tức tháng C hạp, làm tháng đầu năm. Nhà Chu ưa sắc đỏ nên chọn tháng Tý, tức tháng M ười M ột, làm tháng Tết . Các vua chúa nói trên quan niệm về ngày giờ "tạo thiên lập địa" như sau: giờ Tý thì có trời, giờ Sửu thì có đất, giờ Dần sinh loài người nên đặt ra ngày T ết khác nhau. Đời Đông Chu, Khổng Tử đổi ngày Tết vào một tháng nhất định là tháng Dần. Đời nhà Tần (thế kỷ 3 TCN), Tần Thủy Hoàng lại đổi qua tháng Hợi, tức tháng mười. Đến thời nhà Hán, Hán Vũ Đế (140 TCN) lại đặt ngày Tết vào tháng Dần, tức tháng giêng. Từ đó về sau, không còn triều đại nào thay đổi về tháng Tết nữa. Trước năm 1967, Việt Nam lấy giờ Bắc Kinh làm chuẩn cho âm lịch. Quan niệm ngày Tết Người Việt tin rằng vào ngày Tết mọi thứ đều phải mới, phải đổi khác, từ ngoại vật cho đến lòng người, vì vậy khoảng mươi ngày trước Tết họ thường sơn, quét vôi nhà cửa lại. Họ cũng tất bật đi sắm sửa quần áo mới để mặc trong dịp này. Trong những ngày Tết họ kiêng cữ không nóng giận, cãi cọ. Tết là dịp để mọi người hàn gắn những hiềm khích đã qua và là dịp để chuộc lỗi. Mọi người đi thăm viếng nhau và chúc nhau những lời đầy ý nghĩa. Trẻ em sau khi chúc Tết người lớn còn được lì xì bằng một phong bì màu đỏ có đựng ít tiền dành cho c ác em tiêu xài ngày Tết .

Slide4:

Mâm ngũ quả Mâm ngũ quả là một mâm trái cây có năm thứ trái cây khác nhau thường có trong ngày Tết Nguyên Đán của người Việt. Các loại trái cây bày lên thể hiện nguyện ước của gia chủ qua tên gọi, màu sắc và cách sắp xếp của chúng. Mâm ngũ quả của người miền Bắc gồm: chuối, ớt, bưởi, quất, lê. Có thể thay thế bằng cam, quýt, lê-ki-ma, hồng xiêm, hồng đỏ. Chuối xanh cong lên ôm lấy bưởi mang ý nghĩa đùm bọc. Chọn 5 thứ quả theo quan niệm người xưa là ngũ hành ứng với mệnh của con người. Chọn số lẻ tượng trưng cho sự phát triển, sinh sôi. Mâm ngũ quả người miền Nam gồm dừa, đu đủ, mãng cầu, sung, xoài với ngụ ý “ cầu sung vừa đủ xài ” . Cây nêu Cây nêu là một cây tre cao khoảng 5–6 mét. Ở ngọn thường treo nhiều thứ (tùy theo từng điạ phương) như vàng mã, bùa trừ tà, cành xương rồng, bầu rượu bện bằng rơm, hình cá chép bằng giấy (để táo quân dùng làm phương tiện về trời), giải cờ vải tây, điều (màu đỏ), đôi khi người ta còn cho treo lủng lẳng những chiếc khánh nhỏ bằng đất nung, mỗi khi gió thổi, những khánh đất va chạm nhau tạ o thành những tiếng kêu leng keng nghe rất vui tai. Người ta tin rằng những vật treo ở cây nêu, cộng thêm những tiếng động của những khánh đất, là để báo hiệu cho ma quỷ biết rằng nơi đây là nhà có chủ, không được tới quấy nhiễu... Vào buổi tối, người ta treo một chiếc đèn lồng ở cây nêu để tổ tiên biết đường về nhà ăn Tết với con cháu. Câu đối Tết Để trang hoàng nhà cửa và để thưởng Xuân, trước đây từ các nhà nho học cho tới những người bình dân "tồn cổ" vẫn còn trọng tục treo “ C âu đối đỏ" nhân ngày Tết . Những câu đối này được viết bằng chữ Nho (màu đen hay vàng) trên những tấm giấy đỏ hay hồng đào cho nên còn được gọi là câu đối đỏ.

Slide5:

Hoa Tết Ngoài hai loại hoa đặc trưng cho Tết là Đ ào và M ai, hầu như nhà nào cũng có thêm những loại hoa để thờ cúng và hoa trang trí. Hoa thờ cúng có thể như hoa vạn thọ, cúc, lay ơn, hoa huệ , v . v . H oa để trang trí thì muôn màu sắc như hoa hồng, hoa thủy tiên, hoa lan, hoa thược dược, hoa violet, hoa đồng tiền, v . v . Ngoài ra, hoa hồng, cẩm chướng, loa kèn, huệ tây, lá măng, thạch thảo , cắm kèm sẽ tạo sự phong phú và mang ý nghĩa sum họp cho bình hoa ngày tết. Màu sắc tươi vui chủ đạo của bình hoa cũng ngụ ý cầu mong một năm mới làm ăn phát đạt, gia đình an khang và sung túc. Ngày Tất Niên Có thể là ngày 30 tháng Chạp (nếu là năm đủ) hoặc 29 tháng Chạp (nếu là năm thiếu) được gọi là N gày Tất N iên . Đây là ngày gia đình sum họp lại với nhau để ăn cơm buổi tất niên. Buổi tối ngày này, người ta làm cỗ cúng T ất N iên . Giữa ngày 30 (hoặc 29) tháng Chạp và ngày M ù ng 1 tháng Giêng, giờ Tý (từ 23 giờ hôm trước đến 1 giờ hôm sau), trong đó, thời điểm bắt đầu giờ Chính Tý (0 giờ 0 phút 0 giây ngày Mồng 1 tháng Giêng) là thời khắc quan trọng nhất của dịp Tết, đánh dấu sự chuyển giao năm cũ và năm mới, được gọi là Giao T hừa . Để ghi nhận thời khắc Giao T hừa , người ta th ư ờng làm hai mâm cỗ. Một mâm cúng gia tiên tại bàn thờ ở trong nhà mình và một mâm cúng thiên địa ở khoảng sân trước nhà. Một số cộng đồng lấy con hổ là vật thờ thì gọi là cúng Ông Ba Mươi . Một số cộng đồng khác thì có một phần cỗ dành để cúng chúng sinh, cúng những cô hồn lang thang, không nơi nương tựa.

Slide6:

Ông Đồ Già Mỗi năm hoa đào nở Lại thấy ông Đồ già Bày mực tàu giấy đỏ Trên phố đông người qua   Bao nhiêu người thuê viết Tấm tắc khen ngợi tài Hoa tay thảo những nét Như phượng múa rồng bay   Nhưng mỗi năm mỗi vắng Người thuê viết nay đâu Giấy đỏ buồn không thắm Mực đọng trong nghiên sầu   Ông Đồ vẫn ngồi đó Qua đường không ai hay Lá vàng rơi trên giấy Ngoài trời mưa bụi bay   Năm nay đào lại nở Không thấy ông Đồ xưa Những người muôn năm cũ Hồn ở đâu bây giờ ( Vũ Đình Liên )

Slide7:

Lễ đưa Táo Quân về Trời

Slide8:

Cây nêu

Slide9:

Mâm ngũ quả trên bàn thờ tổ tiên

Slide10:

Bánh Dày Bánh Chưng

Slide11:

Bao lì xì Tết

Slide12:

Xuân du phương thảo địa Hạ thưởng lục hà trì Thu ẩm hoàng hoa tửu Đông ngâm bạch tuyết thi                    (Cổ Thi)

Slide13:

Trên hồ Động Thiên   Cảnh hồ Động Thiên nọ,  Hoa cỏ giảm mầu xuân  Thượng đế thương hiu quạnh  Tầng xanh chuông bỗng ngân       Vua Trần Nhân Tông (1278-1320) Bản dịch Trần Lê Văn

Slide14:

  Buổi sớm mùa X uân Ngủ dậy tung song cửa  Nào hay X uân đã sang  Một đôi bươm bướm trắng  Gặp hoa, cánh vội vàng. Vua Trần Nhân Tông (1278-1320)

Slide15:

Đề chùa Cổ Châu   Số đời thật mờ mịt  Mắt giấu tình bên trong.  Cai quản cung ma chặt  Đất Phật xuân thong dong Vua Trần Nhân Tông (1278-1320)

Slide16:

Xuân nhật yết Chiêu lăng     Tì hổ thiên môn túc  Y quan thất phẩm thông  Bạch đầu quân sĩ tại  Vãng vãng thuyết Nguyên Phon    Ngày xuân thăm Chiêu lăng   Nghiêm trang nghìn cửa quân hùm,  Trăm quan bảy phẩm một vùng cân đai.  Bạc đầu, chàng lính nhắc hoài,  Chuyện Nguyên Phong cũ những ngày ruổi rong Vua Trần Nhân Tông (1278-1320)

Slide17:

Xuân cảnh     Dương liễu hoa xuân điểu ngữ trì  Họa đường thiềm ảnh mộ vân phi  Khách lai bất vấn nhân gian sự,  Cộng ỷ lan can khán thúy vi !    Cảnh xuân   Khoan nhặt chim kêu hoa liễu dầy  Họa đường thềm dãi bóng mây bay  Chuyện đời khách đến không hề hỏi  Cùng tựa lan can ngắm cảnh ngoài ! Vua Trần Nhân Tông (1278-1320)

Slide18:

Xuân khứ bách hoa lạc Xuân đáo bách hoa khai Sự trục nhãn tiền quá Lão tòng đầu thượng lai Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận Đình tiền tạc dạ nhất chi mai. Mãn Giác thiền sư (1052-1096) Xuân đ i, tr ă m hoa rụng Xuân đế n, tr ă m hoa khai Sự đờ i qua tr ướ c mắt Tuổi già bạc đầ u ai Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết Ngoài sân đê m tr ướ c một cành mai Trần Đ ì nh Hoành

Slide19:

Thân như điện ảnh hữu hoàn vô Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô Nhậm vận thạnh suy vô bố úy Thạnh suy như lộ thảo đầu phô. Vạn Hạnh thiền sư (? - 1025) Thân như sấm chớp, có rồi không Cây cối xuân tươi, thu héo hon Nhìn cuộc thịnh suy, đừng sợ hãi Thịnh suy ngọn cỏ giọt sương hồng. Bản dịch Nguyễn Lang

Slide20:

Hoa Bướm Xuân sang hoa bướm khéo quen thì Bướm liệng hoa cười vẫn đúng kỳ Nên biết bướm hoa đều huyễn ảo Thấy hoa mặc bướm để lòng chi (Thiền viện Thường Chiếu) Hoa Điệp Xuân lai hoa điệp thiện tri thì Hoa điệp ưng tu cộng ứng kỳ Hoa điệp bản lai giai thị uyển Mạc tu hoa điệp hướng tâm tri (Giác Hải thiền sư -1072-1127)

Slide21:

Xuân nhật tức sự Lỏng tay thêu gấm gái yêu kiều, Hoa rợp, oanh vàng lảnh lót kêu. Bao nỗi thương xuân, thương biết mấy, Là khi không nói chợt dừng thêu. Thiền sư Huyền Quang (1251-1334)

Slide22:

Cầm đuốc chơi đêm Tiếc xuân cầm đuốc mảng chơi đêm, Những lệ (sợ) xuân qua tuổi tác thêm... Cầm đuốc chơi đêm này khách nói, Tiếng chuông chưa gióng ắt còn xuân. Nguyễn Trãi (1380-1442)

Slide23:

Bến đò xuân đầu trại Cỏ xuân đầu bến xanh như khói, Thêm nữa mưa xuân nước vỗ trời. Đồng nội vắng teo hành khách ít, Thuyền kề bãi cát trọn ngày ngơi.      Nguyễn Trãi (1380-1442) B ản dịch Phan Võ

Slide24:

Đêm Xuân Đêm đen nào thấy ánh dương trong, Hàng liễu âm thầm đứng trước song. Ốm liệt giang hồ bao tháng trải, Xuân về mưa gió suốt đêm ròng. Lâu năm đất khách đèn chong lệ, Ngàn dặm quê hương nguyệt dãi lòng. Ngoài xóm Nam Đoài Long Thủy chảy, Trôi hoài kim cổ một dòng không.   Nguyễn Du ( 1766-1820) Bản dịch Nguyễn Xuân Tảo

Slide25:

 Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại, Mảnh tình san sẻ tí con con Hồ Xuân Hương (1772–1822)

Slide26:

Đêm xuân đọc sách Khách nay chẳng thấy xuân xưa nữa, Thổn thức xuân nay gặp khách xưa. Nay hóa thành xưa nào mấy chốc, Hư nhìn ra thực khỏi lầm chưa? Bao phường danh lợi cơn mưa sáng, Mấy bậc anh hùng đám bụi mờ. Tục lụy cười mình chưa dứt được, Gần đây sách vở quá say sưa.   Cao Bá Quát (1808-1855) Bản dịch Nguyễn Văn Tú

Slide27:

Chợ Đồng Tháng Chạp hai mươi bốn chợ Đồng, Năm nay chợ họp có đông không? Trở trời mưa bụi còn hơi rét, Nếm rượu tường đền được mấy ông? Hàng quán người về nghe xáo xác, Nợ nần năm hết hỏi lung tung. Năm ba ngày nữa tin xuân đến, Pháo trúc nhà ai một tiếng đùng.   Nguyễn Khuyến (1835-1909) (s ưu tầm bài của Nguyễn Huệ Chi)

Slide28:

Mùa xuân Mậu Tuất 1958 Đông Hồ ( 1906 -1969 )   Tóc đen mắt  nhánh mực nhung huyền Mặt trắng lòng thơm giấy phấm tiên Phận mỏng chẳng vương theo cánh gió Nghĩa dòng khảo kết chặt tơ duyên Soi nhờ ánh tuyết nền thành lạnh. Giấu kín doanh sơn nếp thánh hiền Điệp tháng bốn phương mùa náo nức Lần thơ xuân hóa bóng thuyền quyên

Slide29:

Thơ say 1940   Thuyền nhỏ sông lam yểu điệu về Cỏ chen màu liễu biếc chân đê Tình Xuân ai chở đầy khoang ấy Hương sắc thanh bình ngập lối quê. Nắng nhẹ mây hờ sương hơi hơi Sương thưa nắng mỏng nhạc khoan lời Dây đàn chầm chậm hôn lên phím Muôn vạn cung Hồ lả lướt rơi Vũ Hoàng Chương (1916-1976)

Slide30:

Ước vọng mùa xuân Hoàng Cầm (1922-2010) Khí tượng đầy tin nắng đẹp tươi Bụi mưa nhàn nhã thả chim trời Mong em ấm lạnh vừa phong độ Anh cứ tầm xuân lấm tấm vui.

Slide31:

Nụ cười xuân Xuân Diệu (1916 – 1985)   Giữa vườn ánh ỏi tiếng chim vui, Thiếu nữ nhìn sương chói mặt trời. Sao buổi đầu xuân êm ái thế! Cánh hồng kết những nụ cười tươi.   Ánh sáng ôm trùm những ngọn cao, Cây vàng rung nắng, lá xôn xao; Gió thơm phơ phất bay vô ý Đem dựng cành mai sát nhành đào.   Tóc liễu buông xanh quá mỹ miều Bên màu hoa mới thắm như kêu; Nỗi gì âu yếm qua không khí, Như thoảng đưa mùi hương mến yêu.   Này lượt đầu tiên thiếu nữ nghe Nhạc thầm lên tiếng hát say mê; Múa xuân chín ửng trên đôi má Xui khiến lòng ai thấy nặng nề...   Thi ế u nữ bâng khuâng đợi một người Chưa từng hẹn đến - giữa xuân tươi Cùng chàng trai trẻ xa xôi ấy Thiếu n ữ làm duyên, đứng mỉm cười.

Slide32:

Xuân về Nguyễn Bính ( 1918–1966 )   Ðã thấy xuân về với gió đông Với trên màu má gái chưa chồng Bên hiên hàng xóm, cô hàng xóm Ngước mắt nhìn trời đôi mắt trong. Từng đàn con trẻ chạy xun xoe Mưa tạnh, trời quang, nắng mới hoe Lá nõn, nhành non ai tráng bạc Gió về từng trận gió bay đi Thong thả nhân gian nghỉ việc đồng Lúa thì con gái mượt như nhung Ðầy vườn hoa bưởi hoa cau rụng Ngào ngạt hương bay bướm vẽ vòng Trên đường cát mịn một đôi cô Yếm đỏ, khăn thâm, trảy hội chùa Gậy trúc dắt bà già tóc bạc Tay lần tràng hạt, niệm na mô.

Slide33:

CUNG kính mời nhau chén rượu nồng CHÚC mừng năm đến, tiễn năm xong TÂN niên phúc lộc khơi vừa dạ XUÂN mới tài danh khởi thỏa lòng

Slide34:

VẠN chuyện lo toan thay đổi hết SỰ gì bế tắc thảy hanh thông NHƯ anh, như chị, bằng bè bạn Ý nguyện trọn đời đẹp ước mong

Slide35:

Trần Đình Hoành & Trần Lê Túy-Phượng Special thanks to all talented artists whose great works appear in this presentation Slideshow này được chia sẻ rộng rãi đến các bạn . Nếu sử dụng , xin ghi rõ nguồn và không sửa đổi nội dung. Chân thành cảm ơn . This slideshow is shared widely to you. If you use it, please provide the source and please keep the content in tact. Many thanks. Chúc Mừng Năm Mới

authorStream Live Help