Phan tich thi truong

Views:
 
Category: Entertainment
     
 

Presentation Description

No description available.

Comments

Presentation Transcript

PHÂN TÍCH ĐầU TƯ CHứNG KHOÁN: 

P HÂN TÍCH ĐầU TƯ CHứNG KHOÁN Phân tích thị trường chứng khoán Việt Nam

Danh sách thành viên : 

D anh sách thành viên 1. Trịnh Hùng Linh 2. Nguyễn Trần Kiên 3. Đỗ Mạnh Tín 4. Trần Trọng Võ 5. Trần Cao Văn

CÁC NộI DUNG CHÍNH: 

CÁC NộI DUNG CHÍNH

I. PHÂN TÍCH THị TRƯờNG CHứNG KHOÁN: 

I . P HÂN TÍCH THị TRƯờNG CHứNG KHOÁN 2007 2011 2006 2000-2005 2008 2009 2010

GIAI ĐOạN 2000 - 2005: 

G IAI ĐOạN 2000 - 2005 2000: Chỉ có 2 loại cổ phiếu (REE và SAM) với số vốn 270 tỷ đồng và một số ít trái phiếu Chính phủ được niêm yết giao dịch. Giai đoạn này thị trường trong trạng thái gật gù trừ cơn sốt 2001 khi VNIndex cao nhất đạt 571.04 điểm. Thị trường cũng đạt được một số thành tựu nhất định: với trên 800 phiên giao dịch liên tục, trị giá giao dịch đạt trên 13.000 tỷ đồng Tính đến hết năm 2005, tổng giá trị thị trường chứng khoán việt Nam đạt gần 40.000 tỷ đồng, chiếm 0,69% tổng thu nhập quốc nội (GDP).

GIAI ĐOạN 2000 - 2005: 

G IAI ĐOạN 2000 - 2005

GIAI ĐOạN 2006: Sự PHÁT TRIểN ĐộT PHÁ CủA TTCK VIệT NAM: 

G IAI ĐOạN 2006 : S ự PHÁT TRIểN ĐộT PHÁ CủA TTCK V IệT N AM Thị trường mang tính đột phá với sự hoạt động giao dịch sôi động tại cả 3 “sàn”: Sở giao dịch Tp.Hồ Chí Minh, Trung tâm Giao dịch Hà Nội và thị trường OTC. 2006 , chỉ số Vn-Index tại SGD TP. Hồ Chí Minh tăng 144% , tại SGDHà Nội tăng 152,4%. VN-Index cuối năm tăng 2,5 lần so đầu năm. Tổng giá trị vốn hóa đạt 13,8 tỉ USD cuối năm 2006 (chiếm 22,7% GDP). Giá trị cổ phiếu do các nhà đầu tư nước ngoài đang nắm giữ đạt khoảng 4 tỉ USD, chiếm 16,4% mức vốn hóa của toàn thị trường.

2006: 

2006 Hàng ngày có khoảng 80-100 công ty có cổ phiếu giao dịch. Trên thị trường phi tập trung, tổng khối lượng giao dịch gấp khoảng 6 lần so với khối lượng giao dịch trên Hastc. Số công ty niêm yết tăng gần 5 lần, từ 41 công ty năm 2005 đã lên tới 193 công ty, số tài khoản giao dịch đạt hơn 10 vạn gấp 3 lần năm 2005 và 30 lần so với 6 năm trước. Trong vòng một năm, chỉ số Vn-Index tăng hơn 500 điểm, từ hơn 300 điểm cuối 2005 lên 800 điểm cuối 2006.

Giai đoạn 2007: TTCK bùng nổ.: 

Luật Chứng khoán có hiệu lực từ ngày 01/01/2007 đã góp phần thúc đẩy thị trường phát triển, hội nhập vào thị trường tài chính quốc tế. VNIndex đạt đỉnh 1.170,67 điểm HASTC-Index chạm mốc 459,36 điểm. Diễn biến của thị trường và giá cả chứng khoán trong các phiên giao dịch có nhiều biến động. Kết thúc phiên giao dịch cuối năm, VNIndex đạt 927,02 điểm, Hastc-Index dừng ở mức 323,55 điểm. => sau 1 năm hoạt động VNIndex đạt được mức tăng trưởng là 23,3%; Hastc-Index tăng 33,2% so với mức điểm vào cuối năm 2006. Giai đoạn 2007: TTCK bùng nổ.

2007: 

2007 Tính đến ngày 28/12/2007, SGDCK TP.HCM đã thực hiện được 248 phiên giao dịch với tổng khối lượng giao dịch đạt hơn 2,3 tỷ chứng khoán tương đương với tổng giá trị giao dịch toàn thị trường đạt 224.000 tỷ đồng, gấp 2 lần khối lượng và 2,8 lần giá trị giao dịch so với năm 2006. TTGDCK Hà Nội thực hiện thành công 248 phiên giao dịch, với tổng khối lượng giao dịch toàn thị trường đạt 616,3 triệu chứng khoán tương đương với tổng giá trị giao dịch toàn thị trường đạt 63.859 tỷ đồng, tăng gấp 6 lần về khối lượng và 15,8 lần về giá trị giao dịch so với năm 2006.

2007: 

2007 Chỉ số VN-Index năm 2007

Giai đoạn 2008.: 

Những điểm nổi bật Index giảm điểm Thị giá các loại cổ phiếu sụt giảm mạnh (nhiều mã CP rơi xuống dưới mệnh giá) Tính thanh khoản kém Sự thoái vốn của khối ngoại Sự can thiệp của các cơ quan điều hành Sự ảm đạm trong tâm lý các NĐT. Giai đoạn 2008.

Slide 13: 

Chỉ số VN-Index năm 2008

Giai đoạn 1: Từ tháng 01 tới tháng 06 - Thị trường giảm mạnh do tác động của kinh tế vĩ mô : 

Khởi đầu năm tại mức điểm 921,07, VNIndex đã mất đi gần 60% giá trị =>một trong những thị trường giảm điểm mạnh nhất trên thế giới trong nửa đầu năm 2008. Các thông tin tác động xấu chủ yếu xuất phát từ nội tại nền kinh tế:lạm phát, chính sách thắt chặt tiền tệ, sự leo dốc của giá xăng dầu và sức ép giải chấp từ phía ngân hàng. Những chủ trương và biện pháp hỗ trợ: (1) UBCKNN thu hẹp biên độ giao dịch; (2) SCIC tham gia mua vào cổ phiếu; (3) NHTM được vận động ngừng giải chấp; (4) Tổ chức niêm yết được khuyến khích mua vào cổ phiếu quỹ. Giai đoạn 1 : T ừ tháng 01 tới tháng 06 - T hị trường giảm mạnh do tác động của kinh tế vĩ mô

Slide 15: 

Tuy nhiên, phần lớn các biện pháp này chỉ phát huy hiệu quả trong ngắn hạn=>thị trường tiếp tục sụt giảm. VNIndex giảm điểm 71/103 phiên. Đỉnh điểm là chuỗi 34 phiên VN-Index giảm điểm liên tiếp từ giữa tháng 04 đến đầu tháng 06/2008. Sau 103 phiên giao dịch, VNIndex giảm mất 550,52 điểm- tương đương 59,77%. Trong lịch sử hoạt động của TTCK, chưa có năm nào UBCKNN phải can thiệp vào thị trường bằng các biện pháp mạnh tay nhiều như năm 2008. Tổng cộng trong năm 2008, UBCKNN đã 4 lần thay đổi biên độ dao động giá trên cả 2 sàn chứng khoán.

Giai đoạn 2: Tháng 06 tới đầu tháng 09 - Phục hồi trong ngắn hạn : 

Giai đoạn 2 : T háng 06 tới đầu tháng 09 - P hục hồi trong ngắn hạn Nhờ vai trò dẫn dắt của một số cổ phiếu blue -chip như STB, FPT, DPM…và đặc biệt là SSI với sức cầu hỗ trợ từ đối tác nước ngoài, cả hai sàn chứng khoán đã có được những phiên tăng điểm mạnh VNIndex và Hastc-Index liên tiếp vượt qua các ngưỡng cản tâm lý quan trọng và thường xuyên có được những chuỗi tăng điểm kéo dài. VNIndex tăng được 168,55 điểm, tương đương 45,52%. Khối lượng giao dịch bình quân đạt 16,9 triệu CP&CCQ, tương đương 599,18 tỷ đồng/phiên.

Giai đoạn 3: Từ tháng 09 tới tháng 12 - Thị trường rơi trở lại chu kỳ giảm : 

VNIndex rơi trở lại xu hướng giảm, thậm chí đã phá vỡ đáy thiết lập được trong giai đoạn đầu của năm 2008. Đáy mới thiết lập trong giai đoạn này là 286,85 điểm vào ngày 10/12/2008. Tổng kết cả giai đoạn này, VNIndex mất 223,48 điểm, tương đương 41,45%. Khối lượng giao dịch trung bình đạt 15,82 triệu CP&CCQ, tương đương 497,58 tỷ đồng/phiên. Nguyên nhân : sự lan tỏa mạnh của cuộc khủng hoảng tài chính trên toàn thế giới. Hòa cùng xu thế giảm điểm của TTCK các nước Giai đoạn 3 : T ừ tháng 09 tới tháng 12 - T hị trường rơi trở lại chu kỳ giảm

Năm 2009: 

Năm 2009 Với giai đoạn tăng trưởng kéo dài hơn 8 tháng giữa năm, năm 2009 được đánh giá là một năm tăng trưởng ấn tượng của TTCK Việt Nam. Tính từ ngày 1/1/2009 đến ngày 31/12/2009, VNIndex tăng thêm 171,96 điểm từ 312,49 điểm lên 494,77 điểm, tương đương mức tăng 58%. HNX-Index có mức tăng trưởng trong năm là 60,9%. Tính cả năm 2009, giá trị giao dịch toàn thị trường trên HOSE là 423.299 tỷ đồng với 10.432 triệu cổ phiếu được chuyển giao, tính trung bình một cổ phần được giao dịch ở mức giá 40.577 đồng, so với năm 2008 là 41.832 đồng. Trên sàn Hà Nội, tổng giá trị giao dịch là 197.524 tỷ với 5.765 triệu đơn vị được chuyển giao, tương đương với mức giá trung bình là 34.263 đồng, so với năm 2008 là 37.310 đồng.

Slide 19: 

Chỉ số VN-Index năm 2009 + Với giá trị giao dịch đạt 423.299 t ỷ đồng thì với 251 phiên giao dịch trong năm, tính trung bình mỗi phiên tại HOSE đạt 1686 tỉ đồng, trong khi năm 2008 là 502 tỉ đồng. + Tại sàn HNX, giá trị giao dịch trung bình mỗi phiên là 787 tỉ, so với năm 2008 là 230 tỉ đồng.

Năm 2010 : 

Năm 2010 Năm 2010 cũng là một năm giao dịch đầy biến động của TTCK Việt Nam. Nửa đầu năm, thị trường biến động trong biên độ hẹp 480 - 550, thanh khoản ở mức trung bình. Nguyên nhân : - Do sự thận trọng của - Sự khan hiếm của dòng tiền. Chính phủ áp dụng những biện pháp hướng dòng vốn vào lĩnh vực sản xuất - Lượng cổ phiếu niêm yết, cổ phiếu thưởng tăng lên nhanh chóng =>dòng tiền trên thị trường càng trở nên khan hiếm.

2010: 

2010 Chỉ số VN-Index năm 2010

Đầu năm 2011 đến nay: 

Đầu năm 2011 đến nay TTCK chịu ảnh hưởng và phản ánh những khó khăn, bất ổn của kinh tế vĩ mô, đặc biệt là chủ trương cắt giảm tỷ lệ dư nợ tín dụng phi sản xuất trên tổng dư nợ của ngành ngân hàng xuống 22% (30-6-2011) và 16% (31-12-2011). Tính từ đầu năm đến nay (01/11), VnIndex tụt giảm 14,9% và chỉ số HNX Index giảm 39,6%. Xu hướng suy giảm của thị trường chứng khoán chiếm ưu thế trong 10 tháng từ đầu năm 2011 Thanh khoản của thị trường cũng giảm sút mạnh, khối lượng giao dịch cổ phiếu bình quân phiên từ mức 25-30 triệu CP (quí 1) giảm xuống mức 15-18 triệu CP (tháng 7) Xuất hiện những phiên giao dịch tại HOSE và HNX mà khối lượng giao dịch nhiều cổ phiếu rớt xuống mức thảm hại - dưới 100 cổ phiếu trong 1 phiên giao dịch. Thị trường UPCOM cũng hầu như bị đóng băng với khối lượng giao dịch rất ảm đạm không đáng kể.

2011: 

Tháng 7, TTCK Việt Nam càng giao dịch càng đi xuống, xu thế giằng co và giảm nhẹ là kịch bản chính của thị trường trong tháng này Tháng 8 - là tháng giao dịch đầy cảm xúc trên TTCK Việt Nam. Trong nửa đầu của tháng này, TTCK Việt Nam tiếp tục chiều hướng xuống trong bối cảnh thiếu vắng thông tin hỗ trợ. VN Index lập đáy vào 12/08 với con số 383,92 điểm còn đáy của HNX Index lại được thiết lập sau đó 1 phiên giao dịch với con số thấp kỷ lục 65,78 điểm Tuy nhiên trong tháng 8 cũng có những tín hiệu khả quan của thị trường đó là niềm tin vào thị trường dần được phục hồi, giao dịch ngày càng trở nên sôi động hơn qua từng phiên, dòng tiền có dấu hiệu trở lại thị trường chứng khoán trong sự hứng khởi của các nhà đầu tư. Tính thanh khoản tăng lên cùng với sắc xanh của điểm số =>tín hiệu rất tích cực. 2011

2011: 

2011 Đà phục hồi kể trên của thị trường tiếp tục kéo dài thêm trong tháng 9. Niềm tin của các nhà đầu tư vào điều này lại thêm được củng cố sau một loạt những biện pháp mạnh mẽ của NHNN =>tạo kỳ vọng vào khả năng kiềm chế và ổn định lạm phát =>thu hút dòng tiền đổ mạnh vào hai sàn giao dịch. Trong đợt hồi phục này VN Index tăng điểm liên tiếp lên đến 13 phiên. Chỉ số này chạm đến đỉnh với con số 470,67 điểm (15/09 ) còn HNX Index thiết lập mức cao nhất trước đó 2 ngày, với con số 79,25 điểm.) Nhưng sau khi đạt đỉnh, VnIndex liên tục trồi sụt với các phiên tăng giảm xen kẽ với tốc độ giảm điểm ngày càng mạnh, đáng lo hơn, thanh khoản thị trường cũng đi xuống theo chiều giảm của VnIndex. VnIndex lình xình từ đó tới ngày 28/10 thì bùng nổ, khi điểm số, thanh khoản thị trường đều tăng mạnh, mặc dù thị trường không nhận được thông tin hỗ trợ nổi bật nào.

II. KIểM ĐịNH TÍNH HIệU QUả YếU CủA TTCK VIệT NAM. : 

II. K IểM ĐịNH TÍNH HIệU QUả YếU CủA TTCK V IệT N AM . 1. Giả thuyết thị trường hiệu quả. a) Khái niệm thị trường hiệu quả. Thị trường hiệu quả hoàn hảo là thị trường hiệu quả trên cả ba mặt: phân phổi, hoạt động và thông tin. Thị trường hiệu quả là thị trường mà trong đó giá cả của chứng khoán phản ánh đầy đủ và tức thời các thông tin hiện có trên thị trường. Việc tăng hay giảm giá chứng khoán là do phản ứng của giá cả đối với các thông tin mới.

b) Đặc điểm của thị trường hiệu quả. : 

b) Đặc điểm của thị trường hiệu quả. Thị trường hiệu quả có một số đặc điểm chủ yếu sau: Mọi thông tin trên thị trường đều nhanh và chính xác, mọi nhà đầu tư đều thu nhận ngay lập tức các thông tin này. Khi thị trường hiệu quả, giá cả chứng khoán trên thị trường luôn phản ánh đúng, chính xác các thông tin trên thị trường có liên quan đến loại chứng khoán đó. Mọi cố gắng để có thu nhập tăng thêm do khai thác các thông tin trên thị trường hiệu quả đều đem lại mức thu nhập thấp hơn chi phí bỏ ra. Giá cả chứng khoán tăng hay giảm do một nguyên nhân duy nhất là giá chứng khoán phản ứng trước những thông tin mới xuất hiện trên thị trường.

c) Các hình thái thị trường hiệu quả. : 

HÌNH THÁI YẾU Thông tin quá khứ HÌNH THÁI TRUNG BÌNH Thông tin đại chúng HÌNH THÁI MẠNH Tất cả thông tin c) Các hình thái thị trường hiệu quả.

Slide 28: 

Thị trường hiệu quả dạng yếu (weak - form) Giá cả chứng khoán hiện tại là sự phản ánh mọi thông tin chứa đựng trong hồ sơ giá quá khứ, như tỷ suất sinh lợi chứng khoán, khối lượng giao dịch, các chuyển dịch, xu hướng, quy luật hiện tại của giá. Hoặc các thông tin chung như mua bán lô lẻ, các thương vụ của các chuyên gia, các nhóm độc quyền. Tỷ suất thu nhập trong quá khứ cũng như các thông tin khác không có mối liên hệ với tỷ suất thu nhập trong tương lai (các tỷ suất thu nhập độc lập với nhau). => chúng ta có thể thu được thêm chút thu nhập khi ra quyết định mua hoặc bán chứng khoán dựa trên các thông tin của thị trường trong quá khứ. Nhưng khó có thể duy trì một siêu tỷ suất sinh lợi liên tục. Giá cả chuyển động một cách ngẩu nhiên (Random Walk).

Slide 29: 

Thị trường hiệu quả dạng trung bình (semi- strong) Giá cả phản ánh không những giá cả quá khứ mà còn phản ánh một cách nhanh chóng bất kỳ một thông tin nào được công bố. Thông tin được công khai bao gồm tất cả những thông tin như các thông báo về thu nhập, cổ tức, tỷ lệ P/E, chia cổ tức, đề nghị sáp nhập công ty… Các nhà đầu tư khi đưa ra quyết định dựa trên những thông tin sau khi được công bố sẽ không thu được tỷ suất sinh lợi cao hơn mức trung bình, bởi giá cả chứng khoán đã phản ánh mọi thông tin công khai đó.

Slide 30: 

Thị trường hiệu quả dạng mạnh (strong - form) Giá cả phản ánh tất cả thông tin có thể được công bố bằng cách phân tích tỷ mỉ về công ty và nền kinh tế(quá khứ và tương lai) Giá cả thực tế của một loại chứng khoán luôn là một dấu hiệu hoàn hảo về giá trị thực sự của nó.

2.Kiểm định tính hiệu quả dạng yếu của thị trường chứng khoán Việt Nam. : 

2.Kiểm định tính hiệu quả dạng yếu của thị trường chứng khoán Việt Nam. Sử dụng chuỗi số liệu của chỉ số VN-Index trên sàn HOSE. Cần lưu ý đặc biệt tới sự đi vào hoạt động của SGDCK HN và sự trưởng thành về cả lượng và chất của TTCK Việt Nam, do đó, cần phải chia số liệu thành các chuỗi dữ liệu để tiện cho việc so sánh và đánh giá tính hiệu quả của thị trường trong từng giai đoạn phát triển. Chuỗi VN-Index 1 được xác định từ 28/7/2000 đến nay (01/11/2011) Chuỗi VN-Index 2 được xác định trong giai từ 28/7/2000 đến 30/6/2005 Chuỗi VN-Index 3 được xác định trong giai đoạn từ 30/6/2005 đến 01/11/2011. a) Số liệu sử dụng

b) Phương pháp kiểm định : 

b) Phương pháp kiểm định Dựa trên giả thuyết thị trường hiệu quả, ta đưa ra mô hình kiểm định sau: ∆P t =β 0 + β 1 .∆P (t-1) + β 2 .∆P (t-2) +β 3 .∆P (t-3) +β 4 .∆P (t-4) + β 5 .∆P (t-5) + U Trong đó: ∆P t = P t+1 - P t. P t : chỉ số thị trường ngày t P t+1 : chỉ số thị trường ngày t+1. Mô hình xem xét sự thay đổi giá trong quá khứ có ngẫu nhiên hay không. Trong mô hình xét sự thay đổi giá thời kỳ t phụ thuộc đến trễ bậc 5 của thay đổi giá . Ta kiểm định cặp giả thuyết: H o : β i = 0 với i=1-5, mô hình tuân theo bước ngẫu nhiên , tức là thị trường đạt hiệu quả dạng yếu. H 1 : tồn tại β i ≠ 0 với i=1-5, mô hình không tuân theo bước ngẫu nhiên tức là thị trường không đạt hiệu quả dạng yếu. Kết quả kiểm định: Sử dụng phầm mềm hồi quy Eviews 4.0 ta có bảng sau đây: * Phương pháp kiểm định tham số

Chuỗi VN-index 1: 

C huỗi VN -index 1 Dependent Variable: X Method: Least Squares Date: 11/02/11 Time: 10:44 Sample(adjusted): 6 2641 Included observations: 2636 after adjusting endpoints Variable Coefficient Std. Error t-Statistic Prob. C 0.000287 0.000320 0.896984 0.3698 X(-1) 0.343394 0.019458 17.64758 0.0000 X(-2) -0.068277 0.020502 -3.330189 0.0009 X(-3) -0.010394 0.020548 -0.505867 0.6130 X(-4) 0.090019 0.020505 4.390080 0.0000 X(-5) 0.066387 0.019455 3.412288 0.0007 R-squared 0.128518 Mean dependent var 0.000507 Adjusted R-squared 0.126861 S.D. dependent var 0.017561 S.E. of regression 0.016410 Akaike info criterion -5.379609 Sum squared resid 0.708206 Schwarz criterion -5.366232 Log likelihood 7096.325 F-statistic 77.56931 Durbin-Watson stat 2.005757 Prob(F-statistic) 0.000000 Với độ tin cậy 95%, trừ β 3 =0, các hệ số còn lại đều khác 0 => bác bỏ H 0, chấp nhận H 1 . Như vậy, trong giai đoạn từ 28/7/2000 đến 01/11/2011, thị trường không đạt hiệu quả dạng yếu.

Chuỗi VN-index 2: 

C huỗi VN -index 2 Nhìn vào bảng kết quả hồi quy ta thấy tồn tại các hệ số β 1, β 2 , β 5 đều có P-value < 0.05 (xét độ tin cậy là 95%) suy ra các hệ số này đều khác 0, => bác bỏ H 0 , chấp nhận H 1 . Như vậy, từ giai đoạn 28/7/2000 đến 30/62005 thị trường không đạt hiệu quả dạng yếu. Dependent Variable: DELTA_P Method: Least Squares Date: 02/11/11 Time: 12:57 Sample(adjusted): 6 1068 Included observations: 1063 after adjusting endpoints Variable Coefficient Std. Error t-Statistic Prob. C 0.066204 0.137878 0.480166 0.6312 DELTA_P(-1) 0.512817 0.030495 16.81658 0.0000 DELTA_P(-2) -0.129343 0.034335 -3.767099 0.0002 DELTA_P(-3) -0.036718 0.034548 -1.062824 0.2881 DELTA_P(-4) 0.002610 0.034336 0.076003 0.9394 DELTA_P(-5) 0.130536 0.030494 4.280661 0.0000 R-squared 0.241749 Mean dependent var 0.129981 Adjusted R-squared 0.238163 S.D. dependent var 5.145194 S.E. of regression 4.490895 Akaike info criterion 5.847610 Sum squared resid 21317.72 Schwarz criterion 5.875656 Log likelihood -3102.004 F-statistic 67.39962 Durbin-Watson stat 2.032022 Prob(F-statistic) 0.000000

Chuỗi VN-index 3: 

C huỗi VN -index 3 Hệ số β 3 và β 5 bằng 0 vì có P-value > 0.05, các hệ số β 1 , β 2 , β 4 khác 0 => bác bỏ H 0 , chấp nhận H 1 . Như vậy, trong giai đoạn từ 30/6/2005 đến 31/12/2010 thị trường không đạt hiệu quả dạng yếu. Dependent Variable: DELTA_P Method: Least Squares Date: 02/11/11 Time: 13:04 Sample(adjusted): 6 1374 Included observations: 1369 after adjusting endpoints Variable Coefficient Std. Error t-Statistic Prob. C 0.113229 0.292074 0.387673 0.6983 DELTA_P(-1) 0.296538 0.027060 10.95853 0.0000 DELTA_P(-2) -0.111660 0.028083 -3.976038 0.0001 DELTA_P(-3) 0.022447 0.028240 0.794867 0.4268 DELTA_P(-4) 0.105226 0.028088 3.746342 0.0002 DELTA_P(-5) 0.044465 0.027064 1.642931 0.1006 R-squared 0.102620 Mean dependent var 0.173528 Adjusted R-squared 0.099328 S.D. dependent var 11.38280 S.E. of regression 10.80270 Akaike info criterion 7.601843 Sum squared resid 159059.9 Schwarz criterion 7.624729 Log likelihood -5197.461 F-statistic 31.17331 Durbin-Watson stat 1.999881 Prob(F-statistic) 0.000000

* Phương pháp kiểm định tham số: 

Bằng phương pháp kiểm định tham số, có thể thấy trong toàn bộ thời gian hoạt động (tính đến 01/11/2011) và xét trên từng giai đoạn biến động của thị trường thì thị trường chứng khoán Việt Nam không đạt hiệu quả dạng yếu. * Phương pháp kiểm định tham số

* Phương pháp kiểm định phân phối chuẩn : 

* Phương pháp kiểm định phân phối chuẩn Một trong những giả thuyết cơ bản của lý thuyết thị trường hiệu quả là chuỗi tỷ suất sinh lời của một chứng khoán phân bố chuẩn. Để kiểm định tính phân bố chuẩn của các chuỗi tỷ suất sinh lời theo ngày, tác giả sử dụng kiểm định Jarque- Bera và thống kê mô tả chuỗi tỷ suất sinh lời (sử dụng phần mềm eview4.0)

Chuỗi tỷ suất sinh lời VN-index 1: 

C huỗi tỷ suất sinh lời VN -index 1 Dựa trên hệ số bất đối xứng và hệ số nhọn của chuỗi này, có thể thấy chuỗi không phân bố chuẩn vì hệ số Skewness = -0.180208≠ 0, hệ số Kurtosis = 5,160721≠ 3. Theo qui luật phân bố chuẩn thì hệ số bất đối xứng phải bằng 0 và hệ số nhọn phải bằng 3. Với tiêu chuẩn Jarque- Bera do P-value= 0.0000 < 0.05, chuỗi tỷ suất sinh lời VN-Index 1 không phân phối chuẩn.

Chuỗi tỷ suất sinh lời VN-index 2: 

C huỗi tỷ suất sinh lời VN -index 2 Dựa trên hệ số bất đối xứng và hệ số nhọn của chuỗi này, có thể thấy chuỗi không phân bố chuẩn vì hệ số Skewness = -0.523641≠ 0, hệ số Kurtosis = 9.520223≠ 3. Theo qui luật phân bố chuẩn thì hệ số bất đối xứng phải bằng 0 và hệ số nhọn phải bằng 3. Với tiêu chuẩn Jarque- Bera do P-value= 0 < 0.05, chuỗi tỷ suất sinh lời VN-Index 3 không phân bố chuẩn.

Chuỗi tỷ suất sinh lời VN-index 3: 

C huỗi tỷ suất sinh lời VN -index 3 Dựa trên hệ số bất đối xứng và hệ số nhọn của chuỗi này, có thể thấy chuỗi không phân bố chuẩn vì hệ số Skewness = -0.015249≠ 0, hệ số Kurtosis = 3.332578≠ 3. Theo qui luật phân bố chuẩn thì hệ số bất đối xứng phải bằng 0 và hệ số nhọn phải bằng 3. Với tiêu chuẩn Jarque- Bera do P-value= 0.025796 < 0.05, chuỗi tỷ suất sinh lời VN-Index 3 không phân bố chuẩn. Tuy vậy, chuỗi VN-Index3 đã phân phối gần với mức phân phối chuẩn hơn.

Phương pháp kiểm định phân phối chuẩn : 

Phương pháp kiểm định phân phối chuẩn Như vậy, với việc kiểm định tính phân phối chuẩn của thị trường chứng khoán Việt Nam trong toàn bộ thời gian hoạt động trên sàn HOSE (tính đến 01/11/2011) và trong từng giai đoạn có thể thấy, thị trường không tuân theo quy luật phân phối chuẩn tức là không đạt hiệu quả dạng yếu.

Kết luận: 

Kết luận Bằng việc thực hiện kết hợp hai phương pháp kiểm định tham số và kiểm định phân phối chuẩn các chuỗi VNIndex xét trên toàn bộ thời gian hoạt động của thị trường hoặc chia theo từng giai đoạn khác nhau khi thị trường có những biến động, các kết luận của cả hai phương pháp đều cho thấy rằng thị trường chứng khoán Việt Nam chưa đạt hiệu quả dạng yếu. Điều này cho thấy thị trường chứng khoán Việt Nam đang bị thao túng giá, có những hiện tượng kiếm lời từ tính không hiệu quả của thị trường thông qua các giao dịch nội gián, làm giá và các hành vi vi phạm khác.