pp2

Views:
 
Category: Entertainment
     
 

Presentation Description

No description available.

Comments

Presentation Transcript

TIỂU MÔĐUN I: TỔNG QUAN VỀ BÀI TẬP:

TIỂU MÔĐUN I: TỔNG QUAN VỀ BÀI TẬP Cấu trúc Học liệu Triển khai môđun

TIỂU MÔĐUN I: TỔNG QUAN VỀ BÀI TẬP:

TIỂU MÔĐUN I: TỔNG QUAN VỀ BÀI TẬP Cấu trúc Học liệu Triển khai môđun - Chủ đề 1: Khái niệm, ý nghĩa, phân loại bài toán hoá học. - Chủ đề 2: Các phương pháp giải bài toán hoá học

TIỂU MÔĐUN I: TỔNG QUAN VỀ BÀI TẬP:

TIỂU MÔĐUN I: TỔNG QUAN VỀ BÀI TẬP Cấu trúc Học liệu Triển khai môđun - Nguyễn Xuân Trường (2006), Sử dụng bài tập trong dạy học Hóa học ở trường phổ thông , NXB ĐH Sư phạm, Hà Nội. - Nguyễn Thị Bích Hiền, Giáo trình : Rèn kĩ năng sử dụng bài tập hóa học trong dạy học , Trường ĐH Vinh. - Nguyễn Ngọc Quang (1994), Lí luận dạy học hóa học, NXB Giáo dục, Hà nội.

TIỂU MÔĐUN I: TỔNG QUAN VỀ BÀI TẬP:

TIỂU MÔĐUN I: TỔNG QUAN VỀ BÀI TẬP Cấu trúc Học liệu Triển khai môđun Chủ đề 1: Khái niệm, ý nghĩa, phân loại bài toán hoá học Chủ đề 2: Các phương pháp giải bài toán hoá học

Chủ đề 1: Khái niệm, ý nghĩa, phân loại bài toán hoá học :

Chủ đề 1: Khái niệm, ý nghĩa, phân loại bài toán hoá học Chủ đề 1: Khái niệm, ý nghĩa, phân loại bài toán hoá học Hoạt động 1: Nghiên cứu khái niệm bài tập, bài toán Hoạt động 2: Phân tích ý nghĩa của bài tập hóa học trong dạy học hóa học

Chủ đề 1: Khái niệm, ý nghĩa, phân loại bài toán hoá học:

Chủ đề 1: Khái niệm, ý nghĩa, phân loại bài toán hoá học Hoạt động 1: Nghiên cứu khái niệm bài tập, bài toán Nhiệm vụ 1: Đọc thông tin cơ bản Hình thức học: Học cá nhân, học ở nhà Nhiệm vụ 2: hãy phân biệt bài tập và bài toán hóa học 1.1.1 Chủ đề 1

1.1.1. Bài toán, bài tập hóa học.:

1.1.1. Bài toán, bài tập hóa học. Trong sách giáo khoa và tài liệu tham khảo ở phổ thông hiện nay, thuật ngữ “bài tập” chủ yếu được sử dụng theo quan niệm: Bài tập bao gồm cả những câu hỏi và bài toán, mà khi hoàn thành chúng học sinh vừa nắm được vừa hoàn thiện một tri thức hay một kỹ năng nào đó, bằng cách trả lời miệng, trả lời viết hoặc kèm theo thực nghiệm.[M.V.ZUEVA] Bài toán đó là bài làm mà khi học sinh hoàn thành chúng học sinh phải tiến hành hoạt động sáng tạo, bất luận hình thức hoàn thành bài toán là trả lời miệng hay viết, thực hành, thí nghiệm, bất cứ bài toán nào cũng được xếp vào hai nhóm : bài toán định lượng (có tính toán) và bài toán định tính.

1.1.1. Bài toán, bài tập hóa học.:

1.1.1. Bài toán, bài tập hóa học. Bài toán chỉ có thể thực sự là “bài toán” khi nó trở thành đối tượng hoạt động của chủ thể, khi có một người nào đó chọn nó làm đối tượng, mong muốn giải nó, tức là khi có một “người giải”. Vì vậy, bài toán và người học có mối liên hệ mật thiết tạo thành một hệ thống toàn vẹn, thống nhất và liên hệ chặt chẽ với nhau

1.1.1. Bài toán, bài tập hóa học.:

1.1.1. Bài toán, bài tập hóa học. Sơ đồ cấu trúc của hệ bài toán: Hoạt động 1

Chủ đề 1: Khái niệm, ý nghĩa, phân loại bài toán hoá học:

Chủ đề 1: Khái niệm, ý nghĩa, phân loại bài toán hoá học Hoạt động 2: Phân tích ý nghĩa của bài tập hóa học trong dạy học hóa học Nhiệm vụ 1: Đọc thông tin cơ bản Hình thức học: làm việc cá nhân Nhiệm vụ 2 : Nêu tác dụng khái quát của bài tập Nhiệm vụ 3 : Phân tích tác dụng của các bài tập sau Hình thức học: thảo luận nhóm 1.1.2 Chủ đề 1

1.1.2. Tác dụng của bài toán trong dạy học hoá học.:

1.1.2. Tác dụng của bài toán trong dạy học hoá học. Trong quá trình dạy học hoá học ở trường phổ thông không thể thiếu bài toán, bài toán hoá học là một biện pháp hết sức quan trọng để nâng cao chất lượng dạy – học, nó giữ một vai trò lớn lao trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo: Nó vừa là mục đích, vừa là nội dung, lại vừa là phương pháp dạy học hiệu nghiệm. Nó cung cấp cho học sinh kiến thức , con đường giành lấy kiến thức và cả hứng thú say mê nhận thức. Bài toán hoá học có những ý nghĩa tác dụng to lớn về nhiều mặt:

1.1.2. Tác dụng của bài toán trong dạy học hoá học.:

1.1.2. Tác dụng của bài toán trong dạy học hoá học. 1.12.1. Tác dụng trí dục. - Làm chính xác hoá các khái niệm hoá học. Củng cố, đào sâu và mở rộng kiến thức một cách sinh động, phong phú, hấp dẫn. Chỉ khi vận dụng được kiến thức vào giải bài tập thì học sinh mới thực sự nắm được kiến thức một cách sâu sắc. - Ôn tập, hệ thống hoá kiến thức một cách tích cực nhất. Khi ôn tập học sinh dễ rơi vào tình trạng buồn chán nếu chỉ yêu cầu họ nhắc lại kiến thức. Thực tế cho thấy học sinh rất thích giải bài tập trong các tiết ôn tập. Rèn luyện kỹ năng hoá học như cân bằng phương trình phản ứng, tính toán theo công thức hoá học và phương trình hoá học … nếu là bài tập thực nghiệm sẽ rèn các kỹ năng thực hành, góp phần vào việc giáo dục kỹ thuật tổng hợp cho học sinh. Rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn đời sống lao động sản xuất bảo vệ môi trường.

1.1.2. Tác dụng của bài toán trong dạy học hoá học.:

1.1.2. Tác dụng của bài toán trong dạy học hoá học. - Rèn luyện kỹ năng sử dụng ngôn ngữ hoá học và các thao tác tư duy. Bài tập hoá học là một phương tiện có tầm quan trọng đặc biệt trong việc phát triển tư duy hoá học của học sinh, bồi dưỡng cho học sinh phương pháp nghiên cứu khoa học. Bởi vì giải bài tập hoá học là một hình thức làm việc tự lực căn bản của học sinh. Trong thực tiễn dạy học, tư duy hoá học được hiểu là kỹ năng quan sát hiện tượng hóa học, phân tích một hiện tượng phức tạp thành những bộ phận thành phần, xác lập mối liên hệ định lượng và định tính của các hiện tượng, đoán trước hệ quả lý thuyết và áp dụng kiến thức của mình. Trước khi giải bài tập học sinh phải phân tích điều kiện của đề tài, tự xây dựng các lập luận, thực hiện việc tính toán, khi cần thiết có thể tiến hành thí nghiệm, thực hiện phép đo… Trong những điều kiện đó, tư duy logic, tư duy sáng tạo của học sinh được phát triển, năng lực giải quyết vấn đề được nâng cao.

1.1.2. Tác dụng của bài toán trong dạy học hoá học.:

1.1.2. Tác dụng của bài toán trong dạy học hoá học. 1.1.2.2. Tác dụng phát triển. Phát triển ở học sinh năng lực tư duy logic, biện chứng khái quát, độc lập thông minh và sáng tạo. Cao hơn mức rèn luyện thông thường, học sinh phải biết vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo để giải quyết bài tập trong những tình huống mới, hoàn cảnh mới, biết đề xuất đánh giá theo ý kiến riêng bản thân, biết đề xuất các giải pháp khác nhau khi phải xử lý một tình huống… thông qua đó, bài tập hoá học giúp phát hiện năng lực sáng tạo của học sinh để đánh giá, đồng thời phát huy được năng lực sáng tạo cho bản thân.

1.1.2. Tác dụng của bài toán trong dạy học hoá học.:

1.1.2. Tác dụng của bài toán trong dạy học hoá học. 1.1.2.3. Tác dụng giáo dục. Bài tập hoá học còn có tác dụng giáo dục cho học sinh phẩm chất tư tưởng đạo đức. Qua các bài tập về lịch sử, có thể cho học sinh thấy quá trình phát sinh những tư tưởng về quan điểm khoa học tiến bộ, những phát minh to lớn, có giá trị của các nhà khoa học tiến bộ trên thế giới. Thông qua việc giải các bài toán còn rèn luyện cho học sinh năng lực độc lập suy nghĩ, tính kiên trì, nhẫn nại, khắc phục khó khăn, tính chính xác khoa học, hình thành cách thức cũng như năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh. Ngoài ra thông qua việc giải bài toán hoá học còn khơi dậy ở các em niềm say mê nghiên cứu, sáng tạo khoa học- một tố chất rất cần thiết cho các chủ nhân tương lai của đất nước

1.1.2. Tác dụng của bài toán trong dạy học hoá học.:

1.1.2. Tác dụng của bài toán trong dạy học hoá học. 1.1.2.4. Tác dụng đánh giá thực trạng nhận thức của học sinh. Bài tập hoá học là phương tiện rất có hiệu quả để kiểm tra kiến thức, kỹ năng của học sinh một cách chính xác. Trong quá trình dạy học, khâu kiểm tra đánh giá và tự kiểm tra đánh giá việc nắm vững kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh có một ý nghĩa quan trọng. Một trong những biện pháp để kiểm tra đánh giá kết quả học tập của mình đó là làm bài tập. Thông qua việc giải bài tập của học sinh, giáo viên biết được hiệu quả của việc sử dụng phương pháp cũng như đặc điểm nhận thức của từng học sinh để từ đó có kế hoạch, chiến lược cụ thể cũng như sự điều chỉnh về mặt phương pháp dạy học sao cho hiệu quả dạy học đạt kết quả tốt.

1.1.2. Tác dụng của bài toán trong dạy học hoá học.:

1.1.2. Tác dụng của bài toán trong dạy học hoá học. 1.1.2.5. Bài tập hoá học là phương pháp dạy học hiệu quả Thực tế giảng dạy ở nhà trường phổ thông cho thấy BTHH đáp ứng yêu cầu là một phương pháp dạy học có hiệu quả. Nó có thể tham gia vào các giai đoạn của quá trình dạy học: đặt vấn đề, giải quyết vấn đề, nghiên cứu tài liệu mới, ôn tập củng cố, vận dụng kiến thức….Trong các bài học nghiên cứu kiến thức mới hay ôn tập GV có thể lựa chọn một vài bài tập nào đó để cho HS tiến hành giải. Thông qua việc giải các bài tập này giúp HS củng cố được kiến thức đã học, nâng cao chất lượng lĩnh hội môn hoá học. Sau đây là một vài ứng dụng cụ thể:

1.1.2. Tác dụng của bài toán trong dạy học hoá học.:

1.1.2. Tác dụng của bài toán trong dạy học hoá học. a. Bài tập hoá học là công cụ để củng cố kiến thức: Bài tập hoá học là một hình thức củng cố, ôn tập hệ thống kiến thức một cách sinh đông và hiệu quả. Khi giải bài tập hoá học, học sinh phải nhớ lại kiến thức đã học, phải đào sâu một khía cạnh nào đó của kiến thức hoặc phải tổ hợp, huy động kiến thức để có thể giải quyết được bài tập. Tất cả các thao tác tư duy đó đã góp phần củng cố, khắc sâu mở rộng kiến thức cho học sinh. b. Bài tập hoá học là cách thức để hình thành khái niệm hoá học cơ bản: Trong bài dạy hình thành khái niệm học sinh phải tiếp thu, lĩnh hội kiến thức mới mà học sinh chưa biết hoặc chưa biết một cách chính xác rõ ràng. Giáo viên có thể lựa chọn xây dựng hệ thống bài tập phù hợp để học sinh hình thành khái niệm mới một cách vững chắc.

1.1.2. Tác dụng của bài toán trong dạy học hoá học.:

1.1.2. Tác dụng của bài toán trong dạy học hoá học. c. Bài tập hoá học là phương tiện để phát triển kiến thức lý thuyết khi nghiên cứu tài liệu mới: Bài tập hoá học là phương tiện nghiên cứu tài liệu mới khi trang bị kiến thức cho học sinh nhằm đảm bảo cho học sinh lĩnh hội được kiến thức một cách sâu sắc và vững chắc. Việc nghiên cứu một kiến thức mới thường bắt đầu bằng việc nêu vấn đề. Mỗi vấn đề xuất hiện khi nghiên cứu tài liệu mới cũng là một bài tập đối với học sinh. Để làm một vấn đề trở nên mới và hấp dẫn và xây dựng vấn đề nghiên cứu còn có thể dùng cách giải bài tập. Việc xây dựng các vấn đề dạy học bằng bài tập không những sẽ kích thích được hứng thú cao của học sinh đối với kiến thức mới sắp được học mà còn củng cố kiến thức đã có và xây dựng được mối liên quan giữa kiến thức cũ và mới. Hoạt động 2

Nhiệm vụ 3: Phân tích tác dụng của các bài tập sau::

Nhiệm vụ 3 : Phân tích tác dụng của các bài tập sau: BT 1. Anđehit A no, mạch thẳng có CTPT (C 3 H 5 O) n . Xác định CTPT, CTCT của A. Nếu không biết A là hợp chất no, mạch thẳng – có thể xác định được CT của A không? Nếu có hãy trình bày cách biện luận. BT 2. Sắp xếp các chất sau theo chiều giảm hàm lượng sắt: FeS, FeS 2 , FeSO 4 , Fe 2 (SO 4 ) 3 , FeO, Fe 2 O 3 , Fe 3 O 4 . Hoạt động 2